CHÀO MỪNG ĐẾN VỚI CỔNG THÔNG TIN BẢO TÀNG NINH BÌNH!

Trống đồng Vũ Bản - Hiện vật đặc sắc của văn hóa Đông Sơn

  10:29 AM 05/01/2026        2215
Giữa dòng chảy bền bỉ của lịch sử dân tộc Việt Nam, Trống đồng Đông Sơn hiện lên như một chứng nhân tiêu biểu, kết tinh tài năng sáng tạo và đời sống tinh thần phong phú của cư dân Việt cổ. Những chiếc trống đồng không chỉ là nhạc khí linh thiêng gắn với nghi lễ và sinh hoạt cộng đồng, mà còn phản ánh trình độ kỹ thuật luyện kim tinh xảo, tư duy thẩm mỹ và thế giới quan của nền Văn hóa Đông Sơn. Trong bộ sưu tập trống đồng Đông Sơn được lưu giữ và trưng bày ở Bảo tàng tỉnh Ninh Bình cơ sở 3,Trống đồng Vũ Bản là hiện vật tiêu biểu thuộc văn hóa Đông Sơn.Trống được ông Nguyễn Văn Hưng và ông Trần Đình Đô phát hiện trong quá trình cải tạo ruộng thành ao thả cá ngày 16 tháng 6 năm 2015. Khi máy xúc đạt tới độ sâu khoảng 1.0m phát hiện tiêu bản trống này. Thời điểm phát hiện trống chỉ còn phần mặt và tang. Sau khi phát hiện, trống được đưa về Bảo tàng. Trống đồng Vũ Bản được chế tác bằng đồng, nặng khoảng 42kg, đường kính mặt 80,5cm, thuộc nhóm trống Đông Sơn loại I (Heger I) – nhóm trống tiêu biểu nhất của văn hóa Đông Sơn. Căn cứ vào đặc điểm hình thái, kỹ thuật chế tác và kết quả phân tích khoa học, trống có niên đại khoảng thế kỷ I–III trước Công nguyên. Hoa văn trên mặt trống:Chính giữa mặt trống được trang trí và tạo hình ngôi sao 16 cánh. Xen giữa các cánh sao trang trí hoạ tiết hình rẻ quạt (lông công) có kích thước khá đều nhau. Sát cạnhcác cánh sao là ba chữ V lồng nhau, chữ V trong cùng có kích cỡ nhỏ nhất. Quy mô của hai chữ V lớn hơn kéo dài tới tận đường chỉ - giới hạn của ngôi sao. Dưới chữ V được tạo hoa văn dạng tam giác, đối xứng với nhau. Dưới phần tam giác đối xứng sát đường chỉ nổi là 09 đường khắc vạch. Bên cạnh ngôi sao 16 cánh ở tâm, mặt trống cũng được trang trí thêm 19 vành hoa văn. Vành số 1, 5, 7, 11, 13 và 19 là văn chấm dải. Kiểu chấm dải được trang trí đối xứng với các vành chủ đạo trên mặt trống.Vành hoa văn số 2, 4, 8, 10, 15 và 17 là các vành chứa đường tròn tiếp tuyến. Các vành số 2, 8 và 15 đường tiếp tuyến được tạo xuôi chiều kim đồng hồ thì các vành còn lại như 4, 10 và 17 tiếp tuyến được tạo ngược chiều kim đồng hồ. Và giống như các vành chấm dải, hoa văn đường tròn chấm giữa có tiếp tuyến được tạo xuôi hay ngược chiều kim đồng hồ đối xứng với nhau thông qua các vành hoa văn chủ đạo nhất, nổi bật nhất trên mặt trống. Vành thứ 3là hoa văn hoa văn kỷ hà với các đường gấp khúc móc nhau tạo thành dạng hồi văn nhưng hai đầu cạnh nhau được để hở. Bên cạnh vành 3, kiểu trang trí hồi văn cũng xuất hiện ở vành số 16.Vành số 6chủ yếu là các hoa văn tả thực với 06 đồ án trang trí đối xứng nhau. Chủ đề được thể hiện trên các motif hoa văn của vành này rất đa dạng, gồm: mô hình nhà sàn, người đánh trống đồng, motif người hóa trang tay cầm binh khí, cảnh hai người đang giã gạo. Vành hoa văn số 9 là băng hoa văn dạng chữ S biến thể với 14 họa tiết được tạo hình lặp lại. Vành hoa văn số 12 là băng trang trí chim lạc với tư thế đang bay ngược chiều kim đồng hồ. Tổng số chim được trang trí là 18 con nhưng kích thước của từng cá thể có sự khác nhau. Các cá thể được tạo hình với phần mỏ và cổ dài. Phần đầu mỏ gần tiếp giáp với phần cánh của cá thể trước. Mắt được tạo là đường tròn có chấm giữa, giống với kỹ thuật tạo các vành hoa văn trang trí đường tròn chấm giữa tiếp tuyến.Tất cả các cá thể được tạo hình với đôi cánh dang rộng. Phía trong cánh là các đường khắc vạch song song hoặc chéo nhau. Thân và đuôi cũng được trang trí các đường khác vạch song song theo chiều dọc hoặc ngang. Vành số 14 và 18: là kiểu trang trí hoa văn kỷ hà với các họa tiết hình tam giác (răng cưa/răng sói). Hình dáng của các họa tiết tam giác cũng rất khác nhau. Điều đó có lẽ phản ảnh thực tế có thể dụng cụ tạo hình trong quá trình làm khuôn có quy mô và hình thái không giống nhau. Vành số 16 là hoa văn kỷ hà với các họa tiết hình thoi kết hợp với hoa văn các đường gấp khúc móc nhau (hồi văn). Mỗi đồ án cũng được tạo hình với ý đồ đối xứng nhau nhưng số lượng mỗi bên không giống nhau. Hoa văn trên tang trống:Chiều cao tổng thể của tang trống là 24cm. Tang trống dạng hình phễu, nở hướng ra ở phía mặt trống và thu lại ở vị trí tiếp giáp giữa tang và thân trống. Vị trí tang nở nhất là từ mặt xuống khoảng 9.0cm, với đường kính 87.0cm. Phần nhỏ nhất chính là nơi tiếp giáp với phần trên thân, chỉ khoảng 68.0cm. Độ mở của vị trí tiếp giáp giữa tang và thân là 33 độ so với trục dọc của trống. Góc hợp bởi giữa phần tiếp giáp mặt ngoài của tang và phần trên của thân trống khoảng 147 độ. Số băng hoa văn trang trí trên tang là 12 vành hoa văn. Các vành hoa văn số 1, 7, 9 và 12 là đường chấm dải. Vành hoa văn số 2 và 6 là hoa văn hình tam giác kết hợp thêm hai chấm. Vành hoa văn số 3, 5, 10 và 11 là đường tròn tiếp tuyến. Vành hoa văn số 4 là đồ án hình thoi kết hợp hồi văn. Trong số các đồ án thuyền được trang trí ở tang, do tình trạng mặt ngoài bị oxy hóa rất mạnh nên chỉ có thể quan sát được những nét cơ bản của 04 đồ án. Các đồ án thuyền trang trí trên tang trống đều là thuyền đáy cong, mũi thuyền thống nhất về tạo hình nhưng phần đuôi thể hiện sự đa dạng. Đuôi thuyền có bánh lái và mái chèo, thân thuyền khắc hoa văn đối xứng, mép thuyền trang trí chấm dải ngược chiều nhau. Giữa các thuyền xuất hiện hình cá, chim; dưới đáy có cá đuối bơi ngược chiều kim đồng hồ, tạo hình sinh động, giàu ý nghĩa biểu trưng. Trên trống Vụ Bản, ngoài đồ án trong các băng hoa văn còn lưu lại trên mặt và tang ở tình trạng khác nhau thì các dấu của kỹ thuật đúc trống với sự xuất hiện của con kê và đường ba via ở thân sau khi đúc có vai trò quan trọng nhất để tìm hiểu kỹ thuật đúc trống đồng. Trống đồng Vũ Bản là một bộ phận của văn hóa Đông Sơn. Cùng với trống Ngọc Lũ I (Bảo vật quốc gia), trống Tiên Nội I (Bảo vật quốc gia), trống Ngọc Lũ II,trống Vũ Bị, trống An Nội, trống An Lão, mộ thuyền Yên Từ, Yên Bắc, mộ thuyền Thịnh Châu hạ, trống đồng Tượng Lĩnh, rìu đồng, giáo đồng, thạp đồng… đã tạo nên một trung tâm Đông Sơn trù mật ở khu vực hạ châu thổ của đồng bằng châu thổ sông Hồng. Quy mô của trống Vũ Bản lớn hơn cả trống Ngọc Lũ cho thấy trình độ và tay nghề của những người thợ đúc đồng Đông Sơn đã đạt đến đỉnh cao. Trống Vũ Bản là tác phẩm nghệ thuật có giá trị thẩm mỹ tiêu biểu cho nghệ thuật Đông Sơn ở vùng châu thổ trũng Bắc Bộ. Các họa tiết, đồ án và băng hoa văn trang trí trên mặt và tang mang trong đó tư duy thẩm mỹ, giá trị kiến trúc, nghệ thuật, tôn giáo, tư duy đối xứng và vũ trụ quan. Thêm vào đó, các dữ liệu của trống còn cung cấp, bổ sung một số nhận thức mới về phương tiện di chuyển gắn với yếu tố văn hóa phi vật thể của cư dân Việt cổ thời Đông Sơn. Trống Vũ Bản là tư liệu vật chất minh chứng cho sự phát triển đến đỉnh cao của kỹ thuật luyện kim thời Đông Sơn, là bằng chứng khẳng định quá trình khai thác và chiếm lĩnh khu vực đồng bằng thấp, ven biển ở châu thổ Bắc Bộ của cư dân Đông Sơn trong giai đoạn Holocene muộn. Trống đồng Vũ Bản là hiện vật gốc, độc bản. Ngoài các giá trị phổ quát tương đồng với các trống nhóm A đã được nghiên cứu và công bố, tiêu bản này cho thấy nhiều yếu tố khác biệt mà cho đến nay khảo cổ học Việt Nam lần đầu tiên ghi nhận trên vùng đất Hà Nam (nay là tỉnh Ninh Bình). Đây là một minh chứng thuyết phục và khách quan, khẳng định sự phát triển và làm chủ các phương pháp và kỹ thuật pha trộn hợp kim, kỹ thuật đúc đồng phức tạp. Các băng hoa văn chứa đồ án, họa tiết và motif cho thấy sự phát triển của tư duy hình học được kết hợp hài hòa với tư duy trừu tượng của cư dân Việt cổ văn hóa Đông Sơn cách ngày nay trên hai nghìn năm. Với những giá trị đặc sắc, tiêu biểu trống đồng Vũ Bản được Thủ tướng chính phủ công nhận là Bảo vật quốc gia năm đợt 13 theo Quyết định số 1712/QĐ-TTg ngày 31 tháng 12 năm 2024.

Giữa dòng chảy bền bỉ của lịch sử dân tộc Việt Nam, Trống đồng Đông Sơn hiện lên như một chứng nhân tiêu biểu, kết tinh tài năng sáng tạo và đời sống tinh thần phong phú của cư dân Việt cổ. Những chiếc trống đồng không chỉ là nhạc khí linh thiêng gắn với nghi lễ và sinh hoạt cộng đồng, mà còn phản ánh trình độ kỹ thuật luyện kim tinh xảo, tư duy thẩm mỹ và thế giới quan của nền Văn hóa Đông Sơn.

Trong bộ sưu tập trống đồng Đông Sơn được lưu giữ và trưng bày ở Bảo tàng tỉnh Ninh Bình cơ sở 3,Trống đồng Vũ Bản là hiện vật tiêu biểu thuộc văn hóa Đông Sơn.Trống được ông Nguyễn Văn Hưng và ông Trần Đình Đô phát hiện trong quá trình cải tạo ruộng thành ao thả cá ngày 16 tháng 6 năm 2015. Khi máy xúc đạt tới độ sâu khoảng 1.0m phát hiện tiêu bản trống này. Thời điểm phát hiện trống chỉ còn phần mặt và tang. Sau khi phát hiện, trống được đưa về Bảo tàng.

Trống đồng Vũ Bản được chế tác bằng đồng, nặng khoảng 42kg, đường kính mặt 80,5cm, thuộc nhóm trống Đông Sơn loại I (Heger I) – nhóm trống tiêu biểu nhất của văn hóa Đông Sơn. Căn cứ vào đặc điểm hình thái, kỹ thuật chế tác và kết quả phân tích khoa học, trống có niên đại khoảng thế kỷ I–III trước Công nguyên.

Hoa văn trên mặt trống:Chính giữa mặt trống được trang trí và tạo hình ngôi sao 16 cánh. Xen giữa các cánh sao trang trí hoạ tiết hình rẻ quạt (lông công) có kích thước khá đều nhau. Sát cạnhcác cánh sao là ba chữ V lồng nhau, chữ V trong cùng có kích cỡ nhỏ nhất. Quy mô của hai chữ V lớn hơn kéo dài tới tận đường chỉ - giới hạn của ngôi sao. Dưới chữ V được tạo hoa văn dạng tam giác, đối xứng với nhau. Dưới phần tam giác đối xứng sát đường chỉ nổi là 09 đường khắc vạch.

Bên cạnh ngôi sao 16 cánh ở tâm, mặt trống cũng được trang trí thêm 19 vành hoa văn. Vành số 1, 5, 7, 11, 13 và 19 là văn chấm dải. Kiểu chấm dải được trang trí đối xứng với các vành chủ đạo trên mặt trống.Vành hoa văn số 2, 4, 8, 10, 15 và 17 là các vành chứa đường tròn tiếp tuyến. Các vành số 2, 8 và 15 đường tiếp tuyến được tạo xuôi chiều kim đồng hồ thì các vành còn lại như 4, 10 và 17 tiếp tuyến được tạo ngược chiều kim đồng hồ. Và giống như các vành chấm dải, hoa văn đường tròn chấm giữa có tiếp tuyến được tạo xuôi hay ngược chiều kim đồng hồ đối xứng với nhau thông qua các vành hoa văn chủ đạo nhất, nổi bật nhất trên mặt trống. Vành thứ 3là hoa văn hoa văn kỷ hà với các đường gấp khúc móc nhau tạo thành dạng hồi văn nhưng hai đầu cạnh nhau được để hở. Bên cạnh vành 3, kiểu trang trí hồi văn cũng xuất hiện ở vành số 16.Vành số 6chủ yếu là các hoa văn tả thực với 06 đồ án trang trí đối xứng nhau. Chủ đề được thể hiện trên các motif hoa văn của vành này rất đa dạng, gồm: mô hình nhà sàn, người đánh trống đồng, motif người hóa trang tay cầm binh khí, cảnh hai người đang giã gạo.

Vành hoa văn số 9 là băng hoa văn dạng chữ S biến thể với 14 họa tiết được tạo hình lặp lại. Vành hoa văn số 12 là băng trang trí chim lạc với tư thế đang bay ngược chiều kim đồng hồ. Tổng số chim được trang trí là 18 con nhưng kích thước của từng cá thể có sự khác nhau. Các cá thể được tạo hình với phần mỏ và cổ dài. Phần đầu mỏ gần tiếp giáp với phần cánh của cá thể trước. Mắt được tạo là đường tròn có chấm giữa, giống với kỹ thuật tạo các vành hoa văn trang trí đường tròn chấm giữa tiếp tuyến.Tất cả các cá thể được tạo hình với đôi cánh dang rộng. Phía trong cánh là các đường khắc vạch song song hoặc chéo nhau. Thân và đuôi cũng được trang trí các đường khác vạch song song theo chiều dọc hoặc ngang.

Vành số 14 và 18: là kiểu trang trí hoa văn kỷ hà với các họa tiết hình tam giác (răng cưa/răng sói). Hình dáng của các họa tiết tam giác cũng rất khác nhau. Điều đó có lẽ phản ảnh thực tế có thể dụng cụ tạo hình trong quá trình làm khuôn có quy mô và hình thái không giống nhau.

Vành số 16 là hoa văn kỷ hà với các họa tiết hình thoi kết hợp với hoa văn các đường gấp khúc móc nhau (hồi văn). Mỗi đồ án cũng được tạo hình với ý đồ đối xứng nhau nhưng số lượng mỗi bên không giống nhau.

Hoa văn trên tang trống:Chiều cao tổng thể của tang trống là 24cm. Tang trống dạng hình phễu, nở hướng ra ở phía mặt trống và thu lại ở vị trí tiếp giáp giữa tang và thân trống. Vị trí tang nở nhất là từ mặt xuống khoảng 9.0cm, với đường kính 87.0cm. Phần nhỏ nhất chính là nơi tiếp giáp với phần trên thân, chỉ khoảng 68.0cm. Độ mở của vị trí tiếp giáp giữa tang và thân là 33 độ so với trục dọc của trống. Góc hợp bởi giữa phần tiếp giáp mặt ngoài của tang và phần trên của thân trống khoảng 147 độ.

Số băng hoa văn trang trí trên tang là 12 vành hoa văn. Các vành hoa văn số 1, 7, 9 và 12 là đường chấm dải. Vành hoa văn số 2 và 6 là hoa văn hình tam giác kết hợp thêm hai chấm. Vành hoa văn số 3, 5, 10 và 11 là đường tròn tiếp tuyến. Vành hoa văn số 4 là đồ án hình thoi kết hợp hồi văn.

Trong số các đồ án thuyền được trang trí ở tang, do tình trạng mặt ngoài bị oxy hóa rất mạnh nên chỉ có thể quan sát được những nét cơ bản của 04 đồ án.

Các đồ án thuyền trang trí trên tang trống đều là thuyền đáy cong, mũi thuyền thống nhất về tạo hình nhưng phần đuôi thể hiện sự đa dạng. Đuôi thuyền có bánh lái và mái chèo, thân thuyền khắc hoa văn đối xứng, mép thuyền trang trí chấm dải ngược chiều nhau. Giữa các thuyền xuất hiện hình cá, chim; dưới đáy có cá đuối bơi ngược chiều kim đồng hồ, tạo hình sinh động, giàu ý nghĩa biểu trưng.

Trên trống Vụ Bản, ngoài đồ án trong các băng hoa văn còn lưu lại trên mặt và tang ở tình trạng khác nhau thì các dấu của kỹ thuật đúc trống với sự xuất hiện của con kê và đường ba via ở thân sau khi đúc có vai trò quan trọng nhất để tìm hiểu kỹ thuật đúc trống đồng.

Trống đồng Vũ Bản là một bộ phận của văn hóa Đông Sơn. Cùng với trống Ngọc Lũ I (Bảo vật quốc gia), trống Tiên Nội I (Bảo vật quốc gia), trống Ngọc Lũ II,trống Vũ Bị, trống An Nội, trống An Lão, mộ thuyền Yên Từ, Yên Bắc, mộ thuyền Thịnh Châu hạ, trống đồng Tượng Lĩnh, rìu đồng, giáo đồng, thạp đồng… đã tạo nên một trung tâm Đông Sơn trù mật ở khu vực hạ châu thổ của đồng bằng châu thổ sông Hồng. Quy mô của trống Vũ Bản lớn hơn cả trống Ngọc Lũ cho thấy trình độ và tay nghề của những người thợ đúc đồng Đông Sơn đã đạt đến đỉnh cao.

Trống Vũ Bản là tác phẩm nghệ thuật có giá trị thẩm mỹ tiêu biểu cho nghệ thuật Đông Sơn ở vùng châu thổ trũng Bắc Bộ. Các họa tiết, đồ án và băng hoa văn trang trí trên mặt và tang mang trong đó tư duy thẩm mỹ, giá trị kiến trúc, nghệ thuật, tôn giáo, tư duy đối xứng và vũ trụ quan. Thêm vào đó, các dữ liệu của trống còn cung cấp, bổ sung một số nhận thức mới về phương tiện di chuyển gắn với yếu tố văn hóa phi vật thể của cư dân Việt cổ thời Đông Sơn.

Trống Vũ Bản là tư liệu vật chất minh chứng cho sự phát triển đến đỉnh cao của kỹ thuật luyện kim thời Đông Sơn, là bằng chứng khẳng định quá trình khai thác và chiếm lĩnh khu vực đồng bằng thấp, ven biển ở châu thổ Bắc Bộ của cư dân Đông Sơn trong giai đoạn Holocene muộn.

Trống đồng Vũ Bản là hiện vật gốc, độc bản. Ngoài các giá trị phổ quát tương đồng với các trống nhóm A đã được nghiên cứu và công bố, tiêu bản này cho thấy nhiều yếu tố khác biệt mà cho đến nay khảo cổ học Việt Nam lần đầu tiên ghi nhận trên vùng đất Hà Nam (nay là tỉnh Ninh Bình). Đây là một minh chứng thuyết phục và khách quan, khẳng định sự phát triển và làm chủ các phương pháp và kỹ thuật pha trộn hợp kim, kỹ thuật đúc đồng phức tạp. Các băng hoa văn chứa đồ án, họa tiết và motif cho thấy sự phát triển của tư duy hình học được kết hợp hài hòa với tư duy trừu tượng của cư dân Việt cổ văn hóa Đông Sơn cách ngày nay trên hai nghìn năm.

Với những giá trị đặc sắc, tiêu biểu trống đồng Vũ Bản được Thủ tướng chính phủ công nhận là Bảo vật quốc gia năm đợt 13 theo Quyết định số 1712/QĐ-TTg ngày 31 tháng 12 năm  2024.