CHÀO MỪNG ĐẾN VỚI CỔNG THÔNG TIN BẢO TÀNG NINH BÌNH!

Những chiếc binh vôi kể chuyện ngàn năm

Có những hiện vật nhỏ bé đến mức dễ bị lãng quên, nhưng cũng chính từ những điều nhỏ bé, bình dị ấy là cả một thế giới văn hóa được đánh thức. Những chiếc bình vôi thuộc sưu tập hiện vật bình vôi của Bảo tàng tỉnh Ninh Bình là như thế - cứ lặng lẽ, trầm mặc nhưng cất giữ trong mình câu chuyện ngàn năm của người Việt. Sưu tập gồm 73 hiện vật - 73 “mảnh ký ức” được sưu tầm, gom nhặt từ trong dân gian, dưới lòng đất, từ sự trân trọng của các cá nhân, tổ chức hiến tặng. Mỗi chiếc bình vôi là một dấu ấn thời gian, trải dài từ thời Lý - Trần đến thời Nguyễn. Chất liệu tạo tác bình vôi thuộc 3 nhóm: sành, gốm men và đất nung, trong đó chất liệu gốm men chiếm đa số (66/73hiện vật). Hiện vật không chỉ phong phú về loại hình, mà còn đa dạng về màu men và hoa văn trang trí. Từ loại để mộc không men, đến loại phủ men với các sắc độ trắng thanh khiết, xanh ngọc dịu dàng, vàng ngà ấm áp, nâu trầm mặc, men lam sâu lắng hay men tam thái rực rỡ. Hoa văn thường được thể hiện trên thân và quai, với các đề tài phong cảnh, sơn thuỷ hữu tình, hoa lá...Có thể nói, bình vôi không đơn thuần chỉ là vật chứa vôi mà nó còn là nơi hội tụ của bàn tay tài hoa và gu thẩm mỹ của người xưa. Nhìn vào những chiếc bình vôi, ta không chỉ thấy đó là một vật dụng, mà còn ẩn chứa cả một nếp sống. Từ đó, hiện lên phong tục ăn trầu - một tập quán từng thấm sâu vào đời sống tinh thần của người Việt, từ thôn quê đến chốn cung đình. Miếng trầu không chỉ để ăn mà để mở lời, để kết giao, để gửi gắm tình cảm. Và bình vôi - vật giữ “hơi ấm” của miếng trầu trở thành một phần không thể thiếu trong mạch chảy văn hóa ấy. Người Việt xưa ăn trầu không vội vàng. Đó là cả một nghệ thuật sống. Từ việc lựa cau, hái trầu, chọn rễ, tôi vôi, đến têm trầu, mời trầu - mỗi công đoạn đều chứa đựng sự tinh tế. Vị cay của trầu, vị chát của cau, vị đắng của rễ (vỏ), vị nồng của vôi hòa quyện vào nhau như cách con người hòa mình vào cộng đồng vậy. Miếng trầu vì thế trở thành “lời chào”, là nhịp cầu kết nối những mối quan hệ, là khởi đầu cho bao câu chuyện đời, là lời mời da diết trong những câu ca dao xưa - miếng trầu hiện lên dung dị mà thấm đẫm tình người: “…Gặp đây ăn một miếng trầu Không ăn cầm lấy cho nhau bằng lòng…” Đó không chỉ là lời mời mà là lời trao gửi. Từ tình yêu đôi lứa, tình anh em đến nghĩa xóm làng, tất cả đều có thể bắt đầu từ một miếng trầu. Và phía sau miếng trầu ấy, luôn có bóng dáng của chiếc bình vôi âm thầm mà bền bỉ. Bình vôi không chỉ dừng lại ở đời sống thường nhật mà còn bước vào thế giới tâm linh. Trong tín ngưỡng dân gian, “Ông bình vôi” được tôn kính như một vị thần nhỏ trong mỗi gia đình. Những ngày lễ Tết, dưới gốc đa, gốc gạo, người dân thường thắp hương cúng ông Bình Vôi - một tập tục mộc mạc mà sâu sắc, phản ánh niềm tin và sự tri ân đối với những gì gắn bó với đời sống con người. Ít có vật dụng nào lại mang được cả hai lớp nghĩa: vừa đời thường vừa linh thiêng như bình vôi. Sưu tập bình vôi không chỉ hàm chứa giá trị lịch sử, văn hóa sâu sắc mà còn mang giá trị nghệ thuật độc đáo. Sưu tập bình vôi là một “bảo tàng thu nhỏ” của kỹ thuật làm gốm qua các thời kỳ. Từ những dáng hình giản đơn thuở ban đầu, bình vôi dần trở nên đa dạng, tinh xảo hơn. Đề tài trang trí chủ yếu lấy hình ảnh từ trong thiên nhiên và cuộc sống bình dị của con người. Từ việc sử dụng hình dáng của loại quả để tạo hình cho đến việc trang trí các tua cau, quả cau, hoa cúc, hình rồng, thạch sùng hay đề tài tre trúc, vân mây, hoa lá cách điệu,… tất cả đều thể hiện sự sáng tạo và bàn tay khéo léo của người nghệ nhân khi đưa những hình ảnh rất đỗi đơn sơ, bình dị từ thiên nhiên vào trong cuộc sống đời thường, góp phần tạo nên nét đẹp văn hóa trong tâm hồn Việt. Trải qua gần một thiên niên kỷ, bình vôi đã chứng kiến bao biến thiên của lịch sử. Dù ngày nay tục ăn trầu không còn phổ biến như xưa, nhưng những giá trị văn hóa mà nó đại diện vẫn chưa bao giờ mất đi. Chúng lắng lại, chuyển hóa và tiếp tục hiện diện trong đời sống tinh thần, trong nghi lễ, trong ký ức của nhiều thế hệ. Trong tương lai, sưu tập bình vôi nếu được lựa chọn trưng bày cùng với các loại hình hiện vật trong kho như: cối giã trầu, ống nhổ, âu trầu, túi trầu, xà tích,… sẽ tái hiện trọn vẹn một không gian văn hóa trầu cau. Khi đó, mỗi hiện vật không chỉ “đứng yên” trong tủ kính, mà sẽ trở thành một “người kể chuyện” - kể về cách người Việt đã sống, đã yêu, đã ứng xử với nhau như thế nào. Và có lẽ, chính từ những điều nhỏ bé như chiếc bình vôi, ta lại hiểu sâu sắc hơn về một điều lớn lao: bản sắc văn hóa không nằm ở những gì phô trương mà được kết tinh từ những điều bình dị nhất nhưng bền bỉ nhất trong đời sống con người.

Sưu tập trang phục, đạo cụ, nhạc cụ thực hành nghi lễ chầu văn của người Việt

Sưu tập trang phục, đạo cụ thực hành nghi lễ chầu văn của người Việt tại Bảo tàng tỉnh Ninh Bình có 338 hiện vật là những trang phục, đạo cụ, nhạc cụ được sưu tầm tại các di tích thờ Mẫu, thuộc Phủ Nấp, xã Yên Đồng, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định (Nay là xã Yên Đồng, tỉnh Ninh Bình) và quần thể di tích Phủ Dầy, xã Kim Thái, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định ( Nay là xã Vụ Bản, tỉnh Ninh Bình). Sưu tập hiện vật là một hệ thống những trang phục, đạo cụ, nhạc cụ ứng với 36 giá đồng trong thực hành nghi lễ chầu văn. Đó là những hiện vật gắn với thần tích, tính cách các vị thần linh mỗi giá đồng. Mỗi bộ trang phục được may thêu cầu kỳ, lại đượm sắc thái của nhiều vùng miền, nhiều dân tộc do các thanh đồng lựa chọn theo tư duy, thẩm mỹ của mình nên không bộ nào giống bộ nào, có giống nhau chăng là quy ước về màu sắc theo từng Phủ. Các vị thánh thuộc phủ nào sẽ mặc trang phục theo phủ đó. Thiên phủ ( màu đỏ), Địa phủ (màu vàng), Thoải phủ (màu trắng), Nhạc phủ (màu xanh). Các trang phục được may thêu cầu kỳ, lại đượm sắc thái của nhiều vùng miền, nhiều dân tộc do các thanh đồng lựa chọn theo tư duy, thẩm mỹ của mình nên không bộ nào giống bộ nào, gồm: Y phục (trang phục thanh đồng mặc trước khi hầu đồng); Khăn tấu hương; khăn phủ diện; Trang phục Tam vị Thánh Mẫu; Trang phục Ngũ vị Quan lớn; Trang phục Tứ vị Chầu Bà hay Tứ vị Thánh Bà; Trang phục các Ông Hoàng; Trang phục Thập Nhị Vương Cô; Trang phục Tứ phủ Thánh Cậu; Trang phục người hầu dâng; Trang phục người hát văn. Bên cạnh trang phục là các nhạc cụ, đạo cụ cũng rất đa dạng góp phần quan trọng không thể thiếu trong một buổi thực hành nghi lễ chầu văn. Tùy theo nội dung, thần tích các vị Thánh mà các đạo cụ, nhạc cụ được sử dụng, cụ thể: Đối với Thánh hàng Quan thường có múa kiếm, long đao, kích... Cung văn chơi nhạc và hát điệu hát dồn, lưu thủy, có tiếng trống và cảnh đồng đệm nhịp. Thánh hàng Chầu Bà thường có múa mồi, múa quạt theo nhịp điệu xà thượng, xá giây lệch. Thánh hàng Ông Hoàng thường có múa cung, múa hèo theo nhị điệu lưu thủy, hát bộ. Thánh hàng Cô thường múa mồi, múa quạt, múa chèo đò, múa thêu hoa, dệt gấm, múa hái hoa...theo các nhịp bỏ bộ, lưu thủy, điệu xá. Thánh hàng Cậu thường múa hèo, múa lân, theo điệu lưu thủy, bỏ bộ có đệm theo nhịp trống sư tử. - Nhóm hiện vật đạo cụ, gồm 3 nhóm: + Nhóm binh khí như: đao, kiếm, cờ để thể hiện các nhân vật dũng mãnh, uy quyền đánh giặc trừ tà. + Nhóm đạo cụ thể hiện sự quyền quý, tao nhã như: hèo, quạt, hộp thuốc, bút đề thơ, nậm rượu,... + Nhóm đạo cụ giá các Cô có mái chèo, quang gánh, lẵng hoa, nón quai thao, túi chầu dao quắm, thậm chí giá Cô Tám đồi chè còn có cả một cành chè tươi... - Nhóm hiện vật nhạc cụ gồm: đàn nguyệt, phách, cảnh đôi, thanh la, sáo, mõ, trống cái và trống con. Ngoài trang phục, đạo cụ, nhạc cụ gắn với các giá đồng, sưu tập còn có một số hiện vật khác là những vật dụng quan trọng không thể thiếu đối với thanh đồng trong quá trình thực hành nghi lễ chầu văn như: “Bàn loan”, lọ hoa, chiếc gương soi, gối vỗ, gối tựa, hòm đựng xiêm y (trang phục), hộp đựng đồ trang điểm,.... Như vậy sưu tập hiện vật trang phục, đạo cụ không chỉ phong phú về loại hình mà còn có giá lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ phản ánh sâu sắc tín ngưỡng thờ Mẫu nói chung và nghi lễ chầu văn của người Việt nói riêng mà Phủ Dầy chính là nơi khởi nguồn, hội tụ và lan tỏa. Sưu tập hiện vật không chỉ giúp nhận diện sự khác biệt về hình thức giữa dòng đồng cốt (nghi thức hầu đồng gắn với tín ngưỡng thờ Mẫu) với hình thức Lên đồng của dòng Thanh đồng mang tính ma thuật thường diễn ra trong dịp giỗ đức Thánh Cha mà còn hình dung ra một sân khấu tâm linh, ở đó có 36 màn trình diễn trang phục tương ứng với 36 giá đồng và những làn điệu âm nhạc hấp dẫn cuốn hút. Với những giá trị cốt lõi đó, ngày 1/12/2016 UNESCO chính thức ghi danh “Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt” là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại đã góp phần thêm khẳng định những giá trị độc đáo quý hiếm của di sản văn hóa vật thể đang lưu giữ tại Bảo tàng tỉnh Ninh Bình.

Sưu tập hiện vật gốm hoa lam thời Lê - Mạc thế kỷ XV - XVI

Trong lịch sử gốm sứ Việt Nam, gốm hoa lam có vị trí quan trọng, được coi là một trong những thành tựu vĩ đại của nền công nghệ gốm Việt Nam, nhất là thời kỳ Lê - Mạc thế kỷ XV - XVI. Gốm hoa lam là tên gọi một loại sản phẩm gốm có trang trí bằng màu xanh lam. Đây không chỉ là màu men xanh lần đầu tiên xuất hiện trên gốm Việt Nam mà còn là sự chuyển đổi cả về phương diện kỹ thuật và nghệ thuật trang trí. Sưu tập hiện vật gốm hoa lam thời Lê - Mạc thế kỷ XV - XVI tại Bảo tàng tỉnh Ninh Bình cơ sở 2 gồm 152 hiện vật được sưu tầm qua các đợt khai quật khảo cổ trên địa bàn tỉnh và từ nguồn hiện vật hiến tặng. Cũng như các loại hình gốm khác, gốm hoa lam thời Lê - Mạc tập trung chủ yếu ở hai loại hình là gốm dùng trong sinh hoạt (chiếm số lượng chủ yếu) như bát, đĩa, bình, lọ… và gốm dùng trong đồ thờ như chân đèn, bát hương. Phần lớn gốm hoa làm được làm từ loại đất sét trắng, được tinh luyện khá kỹ, nung ở nhiệt độ 1300 độ C. Chất liệu tạo mẫu chủ yếu là oxi coban màu xanh lam hay còn gọi là màu chàm, đặc biệt là phương pháp vẽ trang trí dưới men và giữa men của sản phẩm gốm hoa lam tạo nên một hiệu quả kỳ diệu. Khi sản phẩm đã được qua lò nung, hoa văn trang trí thêm phần lung linh sống động. Ngoài lối vẽ bằng màu xanh lam trực tiếp lên sản phẩm, sau này người ta còn sử dụng cả lối trang trí đắp nổi. Đề tài trang trí trên gốm hoa lam thời Lê - Mạc rất phong phú, da dạng. Trên đồ dùng sinh hoạt thường trang trí hoa cỏ thực vật, phong cảnh, hoa văn hình học, sóng nước…; trên đồ thờ trang trí hình rồng, phượng, chữ Hán… Đặc biệt, hầu hết các hiện vật là đồ thờ đều có minh văn (chữ hán). Thời kì này, những làng gốm thủ công mang tính chất chuyên môn hóa. Vai trò của người thợ gốm được đề cao, bằng chứng là người thợ gốm được ghi tên mình và niên đại tạo tác lên sản phẩm. Sưu tập gốm hoa lam thời Lê - Mạc thế kỷ XV - XVI tại Bảo tàng tỉnh Ninh Bình cơ sở 2 đã phần nào phản ánh xã hội đương thời, một xã hội phát triển với tư duy thẩm mĩ cao. Đặc biệt bộ chân đèn và lư hương thuộc sưu tập gốm hoa lam thời Lê Mạc đã được Thủ tướng Chính phủ công nhận là Bảo vật quốc gia vào đợt 2 ngày 30/12/2013 theo Quyết định số 2599/QĐ-TTg. Đây là một bộ sưu tập độc đáo với những đặc trưng phong phú về đề tài, thủ pháp, kỹ thuật cũng như các mặt giá trị lịch sử, văn hóa và nghệ thuật góp phần làm phong phú vốn di sản văn hóa tại Bảo tàng cũng như trên quê hương Ninh Bình - vùng quê giàu truyền thống lịch sử, văn hóa.

Sưu tập gốm hoa nâu thời Trần, thế kỷ XIII-XIV, tại Bảo tàng tỉnh Ninh Bình

Gốm hoa nâu là loại đồ gốm có trang trí hoa văn bằng men mầu nâu, kết hợp với men trắng, thuộc loại sành xốp, xương dầy, thô và nặng, được nung từ 1000 đến 1300 độ C. Mầu nâu trang trí trên sản phẩm gốm được tạo từ nguyên liệu quặng đá nghiền thành bột, pha lẫn với một số phụ gia khác có thành phần chủ yếu là oxit sắt, hay đá son. Ở từng nhiệt độ nung khác nhau sẽ tạo ra các sắc độ màu nâu đậm, nhạt khác nhau như: nâu cà phê, nâu hạt dẻ, nâu da lươn… Sưu tập gốm hoa nâu thời Trần, thế kỷ XIII-XIV đang được bảo quản và phát huy giá trị tại Bảo tàng tỉnh Ninh Bình (Cơ sở 2). Sưu tập gồm có 46 hiện vật, trong đó đồ dùng sinh hoạt chiếm đa số (38 hiện vật) là các loại hình: âu, bình, thạp, liễn, chậu và gốm dùng trong nghi thức tín ngưỡng tôn giáo (8 hiện vật) loại hình chân đèn. Hiện vật thuộc sưu tập được sưu tầm từ nhiều nguồn khác nhau, cụ thể: sưu tầm trong dân gian, do cá nhân hiến tặng và qua thám sát, khai quật tại các di chỉ khảo cổ, di tích thời Trần như: di chỉ Cồn Chè; Đình và Miễu Cao Đài (phường Mỹ Lộc); đền Trần, chùa Phổ Minh, di chỉ Hạ Lan; đền Bảo Lộc (phường Nam Định); chùa Đệ Tứ (phường Thiên Trường),..v..v... Hiện vật thuộc sưu tập chủ yếu là đồ dùng sinh hoạt nên có dáng bề thế, mập mạp, chắc khoẻ đi đôi với lối trang trí bằng những mảng to trên nền thoáng. Không chỉ đa dạng về loại hình, hiện vật gốm hoa nâu còn phong phú ở đề tài và hoa văn trang trí như: hoa sen, hoa cúc, kỷ hà, hoa lá cách điệu, sóng nước, những con vật dân giã…Hoa văn trang trí chủ yếu tập trung ở các vị trí trên nắp đậy, vai và xung quanh sản phẩm. Cách thức thể hiện đa phần là bổ ô hoặc tạo các băng ngang vòng quanh thân, sau đó trang trí hoa văn trong không gian đã ấn định. Kỹ thuật tạo hoa văn trên sản phẩm gốm hoa nâu chủ yếu là khắc trên cốt gốm lúc còn ướt rồi đợi khô mới tô mầu và sau đó bôi hoặc nhúng men hoặc cứ để vậy không phủ men. Hoặc cũng có loại sau khi đã phủ men, người thợ cạo đi để tạo ra những hoạ tiết trang trí, rồi tô mầu nâu lên đó. Tuy chỉ có một màu nâu, nhưng tùy vào công dụng, chức năng mà mỗi sản phẩm gốm hoa nâu được các nghệ nhân tạo ra vô số cấp độ và kiểu thức khác nhau, có chỗ dày, chỗ mỏng, chỗ to, chỗ nhỏ, chỗ đậm, chỗ nhạt, vô cùng sinh động, cuốn hút người xem. Ngoài ra một số sản phẩm, hoa văn được tạo ra bằng cách dùng bút lông vẽ, sau đó phủ men. Đây là bước đột phá quan trọng trong nghệ thuật trang trí trên đồ gốm hoa nâu. Nó không những dần dần thay thế cho nghệ thuật điêu khắc sang nghệ thuật hội hoạ, mà còn tạo tiền đề cho sự ra đời và phát triển của dòng gốm hoa lam các thế kỷ sau. Có thể nói kỹ thuật trang trí trên hiện vật gốm hoa nâu thời Trần bắt nguồn từ truyền thống trang trí nét chìm trên đồ đất nung đã có từ lâu đời kết hợp với bước tiến bộ về kỹ thuật men và màu, cũng như về nghệ thuật tạo hình và trang trí của thời Trần. Hay nói cách khác, gốm hoa nâu xuất hiện từ trước, nhưng phải đến thời Trần, gốm hoa nâu định hình và nhanh chóng phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu của thời đại. Sưu tập hiện vật gốm hoa nâu thời Trần tại Bảo tàng tỉnh Nin Bình mang nhiều giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, nghệ thuật đặc sắc. Thông qua kết quả các đợt khai quật khảo cổ học, các nhà khoa học đã tìm thấy dấu vết lò nung với vết tích sử dụng mầu nâu khá rõ rệt. Đó là lọai đá son có nguồn gốc bản địa, rất phổ biến ở Việt Nam. Khi tiến hành nghiên cứu, so sánh, có quan điểm cho rằng mầu men nâu dùng để tô lên đồ án trang trí của các loại gốm hoa nâu có cùng một chất liệu với mầu nâu viết 4 chữ Hán “Thiên Trường phủ chế " (chế tạo tại phủ Thiên Trường) ở dưới lòng đế các sản phẩm gốm men ngọc cao cấp thời Trần. Điều đó cho thấy mối liên hệ đồng đại giữa hai loại gốm này. Theo kết quả điều tra, thám sát khảo cổ, hầu hết các di tích thời Trần trên địa bàn tỉnh Nam Định trước đây như: di tích Đền Trần - Chùa Phổ Minh; đình Cao Đài; Đền Bảo Lộc, chùa Đệ Tứ...đều phát hiện những sản phẩm gốm hoa nâu đẹp. Việc phát hiện những sản phẩm gốm hoa nâu cùng với hàng ngàn hiện vật bát, đĩa, bình, lọ, đầu rồng, đầu phượng, gạch, ngói, ống cống,... có niên đại thời Trần là minh chứng xác thực, khẳng định hơn 700 năm trước, để tạo dựng hệ thống cung điện, lầu gác tại vùng đất Thiên Trường thời Trần, bên cạnh các trung tâm sản xuất vật liệu kiến trúc đã xuất hiện những lò gốm men sản xuất ra những đồ dùng sinh hoạt phục vụ cho tầng lớp Hoàng tộc Trần. Bên cạnh vẻ đẹp về hình dáng, phong cách trang trí, những hiện vật gốm hoa nâu thuộc sưu tập còn phần nào phản ánh tính thời đại sâu sắc. Hiếm có một dòng gốm nào lại thấm đẫm yếu tố Phật giáo như gốm hoa nâu, thể hiện trên hai chủ đề chính là hoa sen và sóng nước. Hoa sen, lá sen, đài sen hiện diện hầu hết trên từng chi tiết của mỗi sản phẩm gốm, từ núm, nắp, vai, thân cho đến tận chân đế. Qua các đề tài trang trí cho thấy hình tượng hoa sen chiếm địa vị chủ đạo, hoa cúc có xuất hiện nhưng chỉ là thứ yếu. Hoa sen tượng trưng cho sự thanh tao, tinh khiết và giác ngộ trong triết lý của nhà Phật. Hoa cúc biểu tượng cho Đạo giáo. Tuy nhiên, trên một số tác phẩm gốm hoa nâu, hình ảnh sen và cúc đều được thể hiện đã phần nào minh chứng Phật giáo và Đạo giáo cùng song hành tồn tại, hoà quyện trong một xã hội Đại Việt cách đây hơn 700 năm. Ngoài đề tài sen, cúc, trên một số loại hình thạp, âu còn trang trí đề tài hoa chanh 4 cánh hay sóng nước, cành lá cách điệu v..v. Có thể nói đây là những tác phẩm gốm tiêu biểu cho dòng gốm Việt Nam có trang trí màu, hoa văn được sử dụng bằng phương pháp kỹ thuật khắc vạch trên hiện vật khi còn ướt rồi tô một loại đá son lên và tất cả lại được phủ một lớp men trắng ngà. Mặt khác, có thể thấy tính thống nhất trong phong cách thể hiện trên gốm hoa nâu ở đây khá cao. Dù là dưới hình thức cạo men tô nâu, khắc hay cạo hoa văn trên cốt gốm rồi tô nâu, chúng ta đều thấy hình vẽ luôn đơn giản, nét vẽ mập khoẻ, chỗ nông, chỗ sâu, bố cục thưa thoáng, mầu son đậm nhạt khác nhau. Điều đặc biệt là thông qua các tác phẩm nghệ thuật này, với những biểu hiện độc đáo của nó đã góp phần phản ánh cốt cách, tinh thần và tâm hồn Đại Việt - một dân tộc bách chiến bách thắng nhưng giàu lòng nhân ái, nhân văn, luôn thiết tha yêu cuộc sống và ước mơ vươn tới hạnh phúc trường tồn. Có thể nói, triều Trần được coi là giai đoạn phát triển cao của văn minh Đại Việt. Một triều đại đã từng đưa đất nước bước vào thời kỳ thịnh trị với những thành tựu to lớn trên mọi phương diện: chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa, làm rạng danh cho non sông đất n­ước. Trị vì đất nư­ớc 175 năm, song triều Trần đã có những đóng góp hết sức lớn lao đối với lịch sử dân tộc. Dấu ấn của một thời oanh liệt đó hiện vẫn còn tồn tại đậm đặc trong không gian địa lý và trong tâm tư­ởng của người dân Ninh Bình - Thiên Tr­ường x­ưa. Ngày nay người dân Ninh Bình không thể không tự hào về mảnh đất một thời là quê hương, đất phát tích của vương triều Trần cùng với tiềm năng di sản văn hoá Trần vô cùng phong phú, trong đó có những sản phẩm gốm hoa nâu. Sưu tập gốm hoa nâu thời Trần chỉ là một phần rất nhỏ trong tổng thể di sản văn hoá Trần đang lưu giữ tại Bảo tàng tỉnh Ninh Bình nhưng chúng sẽ là minh chứng xác thực, góp thêm tư liệu khảo cổ trong việc nghiên cứu xã hội Việt Nam thời Trần ngay chính trên quê hương - đất phát tích của vương triều Trần ở Ninh Bình nói riêng và cả nước nói chung. Những tác phẩm gốm hoa nâu này là nguồn tài sản vô giá, là niềm tự hào và là một phần trọng tâm - điểm sáng trong trưng bày Bảo tàng tỉnh Ninh Bình.

Sưu tập hiện vật phản ánh cuộc sống của người dân thành phố Nam Định ( Nay là phường Nam Định, tỉnh Ninh Bình)

Sưu tập hiện vật phản ánh cuộc sống của người dân thành phố Nam Định ( Nay là phường Nam Định, tỉnh Ninh Bình) thời kỳ Bao cấp giai đoạn 1976-1986. Sưu tập hiện vật gồm có 107 hiện vật. Mỗi một hiện vật liên quan đến một câu chuyện cảm động, phản ánh những đặc trưng của thời Bao cấp (giai đoạn 1976 – 1986) cụ thể là: Cơ chế của nhà nước; Hình thức phân phối các mặt hàng nhu yếu phẩm qua hình thức bốc thăm, tem phiếu, sổ mua lương thực….Từ cơ chế đó đã tác động ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống vật chất và tinh thần của người dân thành phố Nam Định một thời. Sưu tập hiện vật phân thành 3 nhóm hiện vật thể hiện 3 chủ đề đặc trưng: -Nhóm hiện vật phản ánh đời sống của người dân thành phố Nam Định dựa trên sự phân phối của Nhà nước: Với những hình ảnh Cửa hàng mậu dịch quốc doanh, Cửa hàng bách hóa bán buôn bán lẻ,..hình ảnh xếp hàng mua lương thực, thực phẩm, các loại Sổ mua lương thực và tem phiếu, tiền….là những minh chứng xác thực phản ánh cơ chế phân phối lương thực, thực phẩm cho người dân thành phố Nam Định giai đoạn 1976-1986. Thời kỳ này hàng hoá được Nhà nước phân phối theo chế độ tem phiếu, không được mua bán tự do trên thị trường, không được phép vận chuyển hàng hoá tự do từ địa phương này sang địa phương khác. Chế độ hộ khẩu được thiết lập để phân phối lương thực, thực phẩm theo đầu người. Đồng tiền bị mất giá, có tiền đôi khi cũng khó có thể mua được vật dụng như mong muốn. Bởi mọi nhu yếu phẩm phục vụ cuộc sống lúc bấy giờ là được trao đổi bằng tem phiếu. Hàng hóa khó khăn thiếu thốn mọi thứ nhưng cũng không ít thừa thãi. Đó là đặc trưng của cơ chế làm theo chỉ tiêu, bán theo phân phối, không được tự do trao đổi mua bán hàng hóa trên thị trường. Tất cả đều phải thực hiện dưới sự quản lý của Nhà nước. Điều đó, lý giải vì sao, có những nhà đến 3, 5 tháng liền chỉ được lĩnh vải mà không được lĩnh xà phòng; nhà toàn phụ nữ nhưng khi lĩnh tiêu chuẩn quần áo lót thì toàn quần đùi, áo may ô, và dao cạo râu…Lương công nhân, viên chức chỉ được trả một phần so với thực tế, phần còn lại được quy ra hiện vật, trả bằng sản phẩm do chính mình làm ra hoặc được quy đổi bằng những vật dụng mà có khi cả tháng trời mang về không biết sử dụng vào việc gì. Ngay cả đến những chiếc bát ăn cơm, bộ ấm chén để uống nước, mũi kim, cuộn chỉ…hay bất kể một thứ vật dụng nào được sử dụng phục vụ cho cuộc sống của con người đều do Nhà nước phân phối hoặc mua bằng hình thức tem phiếu theo quy định. Bao cấp là như vậy, không kể người dân thành phố hay nông thôn, không phân biệt đối tượng, Nhà nước bao cấp, điều hành và chi phối tất cả. Mỗi hộ gia đình ở phố được chia theo tiêu chuẩn 4m2/ người nên không gian quá chật chội. Tiêu chuẩn đó cũng không giữ được khi mỗi gia đình tự nở ra thành hai, ba , bốn gia đình bởi con cái lớn lên và lấy vợ, lấy chồng nhưng tất cả vẫn sinh hoạt trong không gian cũ. Thời đó, buổi tối người ta nhìn vào căn nhà, bên trong được ngăn nhỏ ra bằng các tấm ri-đô, mỗi một khoang riđô là một đôi vợ chồng, đôi khi con cái cũng chui vào đó. Sáng ra tất cả ri đô được kéo gọn lại và căn phòng trở nên công cộng như cũ. Giường không đủ cho tất cả nên một số người phải trải chiếu nằm đất. Thời bao cấp một số sản phẩm được mua theo cơ chế phân phối đặc trưng như: ti vi, Radio, đài catsset, đầu đĩa, quạt con cóc, quạt tai voi, chiêc đồng hồ, nồi áp suất, máy ảnh, xe đạp peugeot,…. Đó là những sản phẩm xa xỉ, là ước mơ của nhiều người và chỉ có những cậu ấm cô chiêu của các gia đình khá giả mới có cơ hội tiếp cận với những sản phẩm đỉnh cao của công nghệ thời đại đó. Thời kỳ này nền kinh tế nghèn nàn đã tác động, ảnh hưởng làm cho cuộc sống của người dân trở nên khó khăn, thiếu thốn mọi mặt. Tuy nhiên trong “cái khó ló cái khôn” và những đức tính trời phú cho con người như đùm bọc yêu thương nhau, năng động sáng tạo lại được phát huy hiệu quả. Người ta biết sống vì nhau và tự giác hơn. Dẫu chỉ là một hòn đá xếp hàng nhưng chẳng ai nỡ gạt nó ra để thế chỗ mình vào. Cứ để viên đá thay mặt về nhà lo cám lợn, lo cho con đi học rồi quay lại mua gạo vẫn còn nguyên vị trí thứ tự xếp hàng của mình. Hay trong cái sự xếp hàng ấy, ai bế con nhỏ thế nào cũng được nhường vị trí lên trước để vừa mua được hàng sớm vừa mua được hàng ngon. -Nhóm hiện vật phản ánh đời sống văn hóa thời Bao cấp như: Máy chiếu phim, kịch bản, progam,vé xem phim,…là những hiện vật phản ánh một thời kỳ nền kinh tế nghèo nàn nhưng lĩnh vực văn hóa sôi động tạo ra đời sống tinh thần lành mạnh, góp phần phát triển và ổn định xã hội. Các rạp phim và kịch được mở lại thứ bảy, chủ nhật, khán giả đông nghìn nghịt, thậm chí rất có thể không mua được vé. Phương tiện thông tin duy nhất lúc đó là đài phát thanh Tiếng nói Việt Nam nên mốt đàn ông ra đường đi xe đạp và đeo đài rất thịnh hành. Hàng tháng các Đoàn phim và kịch, chèo từ thành phố về nông thôn lưu diễn. Họ mang theo cả phông màn, nhạc cụ, máy chiếu phim đơn (quay từng cuộn một), máy nổ,…. Người dân nông thôn háo hức, thậm chí đi bộ mấy cây số để đến xem chiếu phim, diễn kịch. -Nhóm hiện vật phản ánh sự mưu sinh của người dân thành phố Nam Định như: Chiếc máy khâu thời kỳ này giúp con người may vá quần áo, chiếc máy đánh chữ cũng là công cụ để kiếm thêm thu nhập,.. Có nhiều nghề mà nếu như không sống trong giai đoạn đó khó có thể nghĩ đến như: Nghề mua bán tem phiếu, nghề bơm bút bi, nghề đánh máy chữ, nghề làm thuốc lá,… Như vậy, sưu tập hiện vật tựa như một bức tranh thu nhỏ, một không gian văn hóa tái hiện sinh động và cụ thể những nét văn hóa đặc trưng của người dân thành phố Nam Định giai đoạn 1976-1986. Sưu tập hiện vật hiện đang được trưng bày và hấp dẫn công chúng tham quan Bảo tàng tỉnh Ninh Bình - Cơ sở 2. Với những hiện vật hàm chứa những câu chuyện cảm động đã đem đến cho công chúng hai trạng thái cảm xúc, đó là sự hồi tưởng (với thế hệ người lớn tuổi) và trải nghiệm (với thế hệ tuổi trẻ). Những người sinh ra và lớn lên trước thời kỳ đổi mới khi đến tham quan sẽ hồi tưởng lại quá khứ, dấu ấn đậm nét một thời và chia sẻ những câu chuyện của riêng mình với các thế hệ trẻ tiếp bước. Thế hệ trẻ được trải nghiệm không gian văn hóa này sẽ hiểu sâu sắc hơn về cuộc sống khó khăn, gian khổ của ông, bà, cha, mẹ để từ đó càng trân trọng và tự hào hơn những thành quả ngót 30 năm đổi mới của Đảng, của đất nước, đồng thời phát huy truyền thống, nỗ lực phấn đấu vươn lên, góp phần xây dựng và phát triển quê hương Ninh Bình nói riêng, đất nước Việt Nam nói chung ngày một giàu đẹp văn minh.

Tìm hiểu nghệ thuật rối nước dân gian qua sưu tập rối nước tại Bảo tàng tỉnh Ninh Bình

Sưu tập hiện vật rối nước đang được lưu giữ, bảo quản và phát huy giá trị tại Bảo tàng tỉnh Ninh Bình - Cơ sở 2. Sưu tập gồm có 50 tượng rối, được phân theo nội dung các tích trò biểu diễn, tiêu biểu là: Tích “Trần Hưng Đạo bình Nguyên” (15 con trò), tích “ Chiến dịch Điện Biên Phủ” (11 con trò), tích “Nông nghiệp: cày, bừa, cấy, tát nước, đánh bắt cá,..” (11 con trò) và một nhóm tượng rối sử dụng biểu diễn một số tích trò khác. Sưu tập hiện vật có nguồn gốc sưu tầm tại 2 phường rối nước thuộc xã Nam Trực, tỉnh Ninh Bình, đó là phường rối Nam Chấn và phường rối Nam Giang. Những tượng rối này đã tham gia lưu diễn nhiều nơi, không chỉ trong nước mà còn vươn xa ra một số nước trên thế giới và đạt được nhiều phần thưởng của Đảng và Nhà nước vinh danh như bằng khen, huy chương vàng, bạc,… Rối nước là một loại hình nghệ thuật văn hóa dân gian độc đáo của Việt Nam, sử dụng ao hồ đầy nước làm sân khấu. Các con rối tạc bằng gỗ nhẹ, được điều khiển từ trong buồng trò, phía sau tượng rối, nghệ nhân lắp các thiết bị điều khiển kết nối với máy sào giấu ngầm dưới mặt nước. Sự cử động của các tượng rối phần nhờ sức nước tác động vào các bánh lái, phao đế, phần do sự kéo giật các dây, que bố trí, trên bàn máy. Tượng rối có thể xuất hiện trên “sân khấu” rất đột ngột và biến mất khỏi sân khấu cũng vậy. Đó là do người điều khiển sử dụng thể lỏng của nước đưa ngầm tượng rối ra sân khấu rồi cho tượng nổi lên hay chìm xuống hoặc đưa về buồng trò. Người điều khiển phải ngâm nước tới nửa mình và nhìn con rối mình điều khiển, làm trò ngoài sân khấu qua tấm mành căng trước mặt buồng trò. Quy trình một buổi biểu diễn rối nước bao giờ cũng bắt đầu từ khâu chuẩn bị. Từ việc sắm sửa lễ ra thắp hương ở đình làng, xin phép thành hoàng làng rồi mới đem rối hạ thủy, đến việc kiểm tra con trò, cơ sở vật chất, thiết bị, phương tiện sao cho đảm bảo thành công mỗi lần biểu diễn. Mỗi ca diễn trong khoảng thời gian từ 40 đến 60 phút và biểu diễn khoảng 10 đến 11 tích trò. Kết thúc buổi biểu diễn, con rối được tháo máy ngay từ trong buồng trò, phơi khô ráo khoảng 3 ngày rồi đem cất giữ, bảo quản tại kho. Sự thành công của vở diễn và có để lại ấn tượng trong lòng khán giả hay không còn do sự kết hợp khéo léo, hài hòa giữa nghệ thuật biểu diễn rối cùng với ánh sáng, âm thanh, làn điệu hát chèo lúc vui tươi, dí dỏm, lúc ngân nga, da diết như cuốn hút người xem hòa mình vào nghệ thuật và vui cùng những tiếng cười ngộ nghĩnh của những con trò biểu diễn sống động trên mặt nước. Sưu tập hiện vật rối nước phản ánh giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học và nghệ thuật độc đáo. Mỗi tượng rối là một tác phẩm nghệ thuật, thể hiện trình độ điêu khắc tinh tế, phản ánh quá trình lao động sáng tạo với tâm hồn phơi phới, lạc quan, yêu đời, yêu quê hương, yêu đất nước của người nghệ nhân nơi đây. Họ đã thổi hồn mình vào sản phẩm để mỗi một tượng rối vô tri trở thành những nhân vật sống động. Họ đã rất cầu kỳ, tỉ mỉ trong cách tạo hình từ lựa chọn gỗ, đến màu sơn thếp, nét vẽ trang trí phù hợp với diện mạo, tính cách nhân vật trong mỗi tích trò. Có lẽ chính bởi sự cầu kỳ, tỉ mỉ trong việc tạo tác tượng rối nên hiện vật dù trải qua bao thời gian vẫn còn giữ nguyên vẻ đẹp ban đầu và hấp dẫn người xem, đọng lại nhiều ấn tượng sâu sắc. Thông qua sưu tập rối nước, giúp chúng ta hiểu hơn về mảnh đất cũng như lịch sử hình thành và phát triển của loại hình nghệ thuật rối nước dân gian. Mảnh đất Nam Trực, tỉnh Ninh Bình được xác lập là một vùng đất cổ còn bảo tồn được nhiều loại hình di sản văn hóa độc đáo, trong đó đặc biệt là loại hình nghệ thuật rối. Cùng với rối cạn ( nghệ thuật ổi lỗi chùa Bi), rối nước là một loại hình di sản văn hóa phi vật thể độc đáo còn lưu truyền đến ngày nay. Trải qua bao biến cố của lịch sử với sự khắc nghiệt của vùng đất nóng ẩm mưa nhiều, chiến tranh loạn lạc, nghệ thuật rối cũng có lúc thăng, lúc trầm, khi thì phát triển mạnh mẽ nhưng cũng có khi mờ nhạt và tưởng như bị rơi vào quên lãng. Thế nhưng loại hình nghệ thuật rối nước vẫn duy trì được bởi thứ tình cảm trân trọng truyền thống từ cha ông của người dân nơi đây nên nghệ thuật rối vẫn bảo tồn được nguyên vẹn các giá trị đích thực của nó và trường tồn trong tâm trí của mỗi người dân Nam Trực - nơi được coi là quê hương, điểm khởi đầu của nghệ thuật rối. Vậy rối nước có tự bao giờ? Sau nhiều cuộc khảo sát điều tra, các nhà nghiên cứu đã dừng lại ở thông tin trên tấm bia Sùng Thiện Diên Linh (chùa Đọi Sơn) đánh dấu sự ra đời của nghệ thuật rối từ thế kỷ XII. Tương truyền rằng Từ đức –Từ Đạo Hạnh lánh nạn về xã Chân Đàm dựng thảo xá Đại Bi để tu hành. Xã Chân Đàm xưa, thời Lê Trung Hưng đổi là xã Chân Nguyên, đến thời Nguyễn đổi là xã Trực Chính, nay thuộc xã Nam Trực, tỉnh Ninh Bình. Từ Đạo Hạnh đã đem nghề múa rối cạn và nghề múa rối nước truyền dạy cho người dân nơi đây. Xưa kia vùng đất Nam Trực đã tồn tại phường 4 đời múa rối, trong đó có 2 Phường múa rối nước là Phường rối Nam Giang, thôn Nhất, thị trấn Nam Giang (nay là xã Nam Trực, tỉnh Ninh Bình) và Phường rối Nam Chấn, thôn Rạch, xã Hồng Quang (nay thuộc phường Hồng Quang, tỉnh Ninh Bình). Theo người dân thôn Rạch truyền tụng, vào khoảng năm 1755 cụ Mai Văn Kha làm nghề thợ chạm ở thôn Rạch đứng ra tập hợp những người thợ trong thôn lập nên “ phường rối nước”. Các cụ tự tạo ra các con trò như chú Tễu, các tiên nữ, con trò long ly, quy, phượng, rồi sử dụng ao làng trước cửa chùa làm buồng trò biểu diễn. Từ đó nghệ thuật rối nước được truyền dạy, lưu truyền trong các dòng họ Mai, Phan, Đặng ở thôn Rạch. Đến đời cụ Phan Văn Thuyên (sinh năm 1899) làm Trưởng phường là đến đời thứ 4. Thời kỳ Cách mạng tháng Tám năm 1945, phường rối nước thôn Rạch có tới 45 người. Sau đó đất nước trải qua hai cuộc chiến tranh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, phường rối nước tạm dừng hoạt động. Năm 1975, đất nước hòa bình, phường rối nước được phục hồi và hoạt động trở lại với tên gọi phường rối Nam Chấn. Sở dĩ phường rối nước Nam Chấn luôn tồn tại và phát triển vì các nghệ nhân làng rối không chỉ chú ý bồi dưỡng truyền nghề hát múa và kỹ thuật điều khiển rối cho các lớp diễn viên mà còn chú trọng đến cả những người sáng tạo làm ra tượng rối. Hàng năm phường rối nước Nam Chấn thường biểu diễn vào 3 thời điểm chính, đó là ngày kỵ thành hoàng làng Đệ nhị Lê Kiên đại vương; lần 2 vào ngày hội làng đình Cả, thờ Linh Ứng đại vương; lần 3 vào ngày kỵ Mẫu Liễu Hạnh. Cùng với phường rối Nam Chấn, phường rối Nam Giang cũng có một bề dày lịch sử hình thành và phát triển. Các cụ thủy tổ xưa đã dựng lên những tích trò mà ngày nay vẫn còn biểu diễn, đó là tích “Đinh Tiên Hoàng”, “Đánh đồn Tây”, “Chim hòa bình đưa thư”.... Trước năm 1945, phường rối được các cụ duy trì và hoạt động mạnh. Sau năm 1945, phường rối hoạt động sôi nổi hơn và thường xuyên tham gia hội diễn do tỉnh tổ chức. Sang thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, các nghệ nhân nơi đây đã lên đường tham gia chống Mỹ cứu nước. Phường rối ngừng hoạt động. Đến năm 1987, được sự quan tâm của Đảng ủy, UBND huyện, phường rối được khôi phục lại và hoạt động khắp nơi trong, ngoài tỉnh. Hàng năm phường rối tổ chức biễu diễn vào các dịp lễ hội làng như: tháng Giêng, tháng Hai, tháng Tám, tháng Chín. Ngoài ra đoàn còn lưu diễn tại các tỉnh bạn như Hà Nội, Hưng Yên, Ninh Bình, Huế... Mặc dù gặp nhiều khó khăn nhưng với sự say mê yêu nghề nên các nghệ nhân nơi đây đã duy trì hoạt động và phát triển. Phường rối Nam Giang đã được Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch đánh giá cao, là một trong 14 phường rối nước dân gian toàn quốc. Có thể khẳng định rằng, sưu tập hiện vật rối nước tại Bảo tàng tỉnh Ninh Bình không chỉ đơn thuần là tập hợp một sưu tập hiện vật mà còn là một kho tàng lưu giữ ký ức văn hóa dân gian đặc sắc của cư dân đồng bằng Bắc Bộ. Mỗi tượng rối là kết tinh của tài hoa, tâm huyết và tình yêu nghề của các thế hệ nghệ nhân, phản ánh sinh động đời sống lao động, tín ngưỡng, lịch sử đấu tranh và khát vọng về cuộc sống no đủ, yên vui của người Việt. Để bảo tồn và phát huy giá trị của loại hình nghệ thuật rối nước dân gian, hàng năm Bảo tàng tỉnh Ninh Bình đưa vào kế hoạch tổ chức hoạt động Hội chợ xuân, mời phường rối nước tham gia biểu diễn tại không gian ngoại thất của bảo tàng. Hoạt động này đã mang lại hiệu ứng tích cực, thu hút hàng ngàn người đến tham quan. Điều đó đã và đang góp phần quan trọng trong việc gìn giữ, trao truyền và lan tỏa giá trị của nghệ thuật rối nước – một di sản văn hóa truyền thống độc đáo của dân tộc đến với công chúng. Đây không chỉ là trách nhiệm của Bảo tàng tỉnh mà còn là sự tiếp nối mạch nguồn văn hóa, để những giá trị tinh hoa của cha ông tiếp tục được trân trọng, bảo tồn và tỏa sáng trong đời sống đương đại.

Sưu tập hiện vật Sơn mài Cát Đằng

“Sưu tập hiện vật sơn mài Cát Đằng tại Bảo tàng tỉnh Ninh Bình” gồm 173 hiện vật (195 thành phần hợp thành hiện vật), được phân thành 4 nhóm hiện vật, trong đó có 85 hiện vật là sản phẩm hàng chắp, được làm từ chất liệu nứa, sơn mài chiếm số lượng nhiều nhất. Sau đó đến sản phẩm hàng nét với 41 hiện vật được làm từ chất liệu gỗ, sơn mài. Bên cạnh hai chất liệu chính, còn có bộ dụng cụ sản xuất sản phẩm sơn mài truyền thống có 15 hiện vật đa chất liệu như: gỗ, nhựa, sắt, sừng trâu, tóc người hoặc lông động vật (lông heo, mèo) và nhóm hiện vật giấy ảnh, nội dung phản ánh lịch sử hình thành và phát triển nghề sơn mài Cát Đằng: 32 hiện vật. Hiện vật thuộc sưu tập có niên đại sớm nhất là cuối thế kỷ XIX và muộn nhất: đầu thế kỷ XXI. Sưu tập hiện vật sơn mài Cát Đằng phong phú và đa dạng về loại hình, chất liệu. Đa số hiện vật là những mẫu trưng bày, giới thiệu sản phẩm và làm mẫu để sản xuất ra nhiều sản phẩm khác phục vụ nhu cầu thị hiếu người tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. Tùy thuộc loại hình sản phẩm lại có những chức năng sử dụng khác nhau như: hiện vật sơn mài thuộc hàng nét sử dụng để trang trí làm đẹp không gian gia đình, công sở như: các bức tranh sơn mài; Có nhóm hiện vật là đồ thờ: câu đối, chân đế, mâm bịch,… sử dụng để bày trang trí không gian di tích, từ đường dòng họ,…. Một loại hình hiện vật sử dụng làm đồ lưu niệm, đồ gia dụng phục vụ nhu cầu sinh hoạt trong cuộc sống hàng ngày như: Album, bàn cờ, khay…. Khác với hiện vật là sản phẩm hàng nét, hiện vật thuộc sản phẩm hàng chắp được làm từ chất liệu nứa, sơn mài sử dụng để trang trí nội thất tinh xảo như bình, lọ hoa,…Một loại hình hiện vật là đồ gia dụng để đựng hoa quả, thức ăn,... Ngoài ra còn một số hiện vật được sáng tạo mẫu mới hiện đại, bắt nhịp với xu hướng phát triển của xã hội như các sản phẩm bát với các kiểu dáng cách tân như bát dáng thuyền, bát khảm vỏ ốc, lọ lục bình, lọ cắm hoa, đã góp phần tôn thêm vẻ sang trọng cho không gian nội thất của gia đình, công sở. Sưu tập hiện vật sơn mài Cát Đằng có giá trị lịch sử, văn hóa và nghệ thuật độc đáo. Mỗi một hiện vật sơn mài thuộc sưu tập là một tác phẩm nghệ thuật hoàn chỉnh, thể hiện trình độ kỹ thuật đạt đến độ tinh xảo. Người nghệ nhân đã thể hiện sự công phu, tỉ mỉ, khéo léo trong từng chi tiết tạo tác sản phẩm. Từ việc lựa chọn sơn, pha chế sơn đến việc lựa chọn gỗ, nứa rồi chau chuốt tạo cốt, vóc gắn vá, bọc vải, bó, kẹt, hom, lót, thí, cầm,… tới sơn kết hợp vẽ đề tài trang trí, đánh bóng hoàn thiện cho sản phẩm. Có những tác phẩm tranh sơn mài từ khi bắt đầu đến hoàn thiện phải trải qua nhiều giai đoạn từ bước làm vóc tranh cho tới giai đoạn mài tới hàng chục các lớp sơn với những lượt mài khác nhau và có thể kéo dài khoảng 4 đến 6 tháng hay thậm chí là nhiều năm. Có lẽ cũng chính vì quá trình phức tạp đòi hỏi sự công phu cùng với kỹ thuật tỉ mỉ, kỹ lưỡng mà những tác phẩm sơn mài luôn bền đẹp và được đánh giá cao về giá trị nghệ thuật độc đáo và hấp dẫn, khiến cho người xem không chỉ ngắm nhìn mà còn muốn khám phá, trải nghiệm từng chi tiết, biểu tượng cảm xúc mà tác giả thổi hồn vào tác phẩm. Hiện vật sơn mài không chỉ là một tác phẩm có giá trị nghệ thuật sử dụng trang trí làm đẹp không gian mà còn hàm chứa bên trong những giá trị văn hóa, tinh hoa của dân tộc. Nội dung phản ánh quá trình lao động, sản xuất, sáng tạo tuyệt vời của cha ông ta trong việc tiếp thu và biến đổi các yếu tố văn để hình thành nên những thành tố văn hóa của riêng mình. Thông qua những nét vẽ tinh tế, sắc màu sống động trên hiện vật không chỉ biểu thị những cảm xúc sâu lắng của tác giả mà còn truyền tải những thông điệp văn hóa và triết lý sống của con người gửi gắm trong mỗi loại hình hiện vật như ước vọng cầu may mắn, bình an, sung túc và hạnh phúc. Nhiều sản phẩm đã trở thành biểu tượng đặc trưng cho văn hóa Việt Nam tồn tại từ bao đời nay như loại hình khay, tráp sử dụng trong Lễ ăn hỏi truyền thống, những sự kiện quan trọng… Mặt khác khi sáng tạo sản phẩm sơn mài, những nghệ nhân Cát Đằng đã phác họa những chủ đề thiên nhiên sinh động như núi non, sông nước, hoa lá, động vật,… để tái hiện và tôn vinh vẻ đẹp của thiên nhiên làng quê Việt Nam, mang đến cảm giác vui tươi, yên bình và thanh lịch. Sưu tập hiện vật sơn mài Cát Đằng phản ánh giá trị lịch sử sâu sắc, giúp chúng ta tìm hiểu về mảnh đất, con người, làng nghề sơn mài Cát Đằng từ khi hình thành, phát triển đến nay đã có trên 700 năm lịch sử. Từ đó chúng ta càng trân trọng tự hào hơn những giá trị di sản văn hóa truyền thống của quê hương. Bởi mỗi hiện vật sơn mài đã hàm chứa bên trong những thông tin, phản ánh tư tưởng, đời sống văn hóa và quan niệm nghệ thuật của con người thời đại nó ra đời. Nó ghi lại những sự kiện lịch sử quan trọng thông qua những đề tài trang trí trên hiện vật - một nguồn tư liệu hữu ích giúp thế hệ sau có thể nhìn nhận sự thay đổi, phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và vai trò của con người trong mỗi giai đoạn lịch sử đó. Như vậy, có thể nói sưu tập hiện vật sơn mài Cát Đằng giúp chúng ta hình dung ra một bức tranh văn hoá đặc sắc được tô đậm bởi những hiện vật sơn mài độc đáo, phản ánh sự sáng tạo, khéo léo, tỉ mỉ cũng như những cảm xúc, tư tưởng, phong tục tập quán, tôn giáo, tín ngưỡng của Nghệ nhân gửi gắm trong mỗi một hiện vật sơn mài. Nhờ đó mà những giá trị lịch sử văn hóa truyền thống hàm chứa trong mỗi loại hình sản phẩm được lan tỏa khắp các vùng miền không chỉ trong nước mà còn vươn ra ngoài một số nước trên thế giới, đóng góp vào sự đa dạng, làm giàu thêm bản sắc văn hóa của dân tộc.

15

Năm thành lập

872

Tư liệu trưng bày

7625

Lượt truy cập