Bảo vật quốc gia “Ba bia đá thời Lê Trung Hưng tại chùa Keo Hành Thiện, xã Xuân Hồng, tỉnh Ninh Bình”.
Ngày 03/02/2026, Phó Thủ tướng Chính phủ Mai Văn Chính ký Quyết định số 236/QĐ-TTg về việc công nhận bảo vật quốc gia (Đợt 14) cho 30 hiện vật, nhóm hiện vật tiêu biểu trong cả nước, trong đó có ba bia đá thời Lê trung hưng tại chùa Keo Hành Thiện, xã Xuân Hồng, tỉnh Ninh Bình.
Chùa Keo Hành Thiện (Thần Quang tự) tại xã Xuân Hồng, tỉnh Ninh Bình, được khởi dựng từ thời Lý (1061), ban đầu có tên là Nghiêm Quang, sau đổi Thần Quang. Chùa do Đức Thánh Tổ Dương Không Lộ xây dựng trên đất Giao Thủy, phủ Hải Thanh, vì vậy dân gian gọi là chùa Giao Thủy. Từ “Giao” có âm Nôm là “Keo”, vì vậy còn gọi là chùa Keo. Năm 1611, tại đây xảy ra trận lụt lớn, làm vỡ đê, gây lụt lớn, chôn vùi nhiều làng, xã và các công trình kiến trúc, trong đó có có ngôi cổ tự Thần Quang. Sau đó, nhân dân địa phương di chuyển chùa sang hai bên tả, hữu sông Hồng; một bộ phận dời sang tả ngạn sông Hồng lập làng Dũng Nhuệ (nay là xã Vũ Tiên, tỉnh Hưng Yên); phần chuyển sang hữu ngạn lập nên làng Hành Cung, gọi là chùa Keo Hành Thiện.
Hiện nay, tại di tích lưu giữ nhiều di vật, cổ vật có giá trị lịch sử văn hóa như: tượng thờ, sắc phong, kiệu, hoành phi, câu đối… ; đặc biệt có ba bia đá thời Lê Trung hưng đặt tại tam quan chùa. Ba bia đá gồm:
-“Tu tạo Thần Quang tự bi ký”, niên hiệu Hoằng Định 13 (1613).
- Thần Quang tự Đại pháp sư bi - Nam mô A di đà Phật” niên hiệu Cảnh Trị 9 (1671)
- “Hưng chú Thánh tượng Đại pháp sư bi ký - Nam mô a di đà Phật”, niên hiệu Chính Hòa 25 (1704)
Ba bia đá thời Lê trung hưng thế kỷ XVII-XVIII tại chùa Keo Hành Thiện là những hiện vật gốc độc bản trong hệ thống bia đá tại Việt Nam, được bảo tồn nguyên gốc, chưa bị can thiệp, sai lệch về nội dung hoặc hình thức.
Bên cạnh đó, ba bia đá có hình thức độc đáo, được tạo tác với hình dáng vững chãi, bố cục, hình khối cân xứng hài hòa, có kích thước lớn, đề tài trang trí phong phú thể hiện sự sáng tạo và kỹ thuật chạm khắc đá điêu luyện bậc nhất vào thế kỷ XVII - XVIII. Trên ba bia đá chạm khắc nhiều đề tài, bao gồm: các linh vật, cỏ, cây, hoa, lá, họa tiết hoa văn… vô cùng đặc sắc phản ánh sự tài hoa, trí sáng tạo, tư duy thẩm mỹ nghệ thuật của nghệ nhân đương thời. Các linh vật gồm: rồng, phượng, nghê, hổ, hươu, chó ngao… với nhiều kiểu dáng khác nhau, phản ánh các tầng lớp xã hội đương thời. Các linh vật: rồng chầu mặt nguyệt, rồng chầu mặt trời, rồng cuộn ổ, rồng cuốn… được tạo hình ở phía trên, biểu trưng cho vua và tầng lớp quý tộc. Các loài vật: hươu, nai, chó ngao… được tạo hình ở phía dưới tượng trưng cho tầng lớp nhân dân gồm sĩ, nông, công, thương… Sự đan xen, hòa quyện giữa các giai tầng xã hội tạo lên bức tranh sinh động về đời sống văn hóa, kinh tế - xã hội đương thời.
Đặc biệt, trên trán bia“Thần Quang tự Đại pháp sư bi” trang trí đề tài “Tiên nữ cưỡi rồng” là hình tượng văn hóa đặc sắc, nổi bật nhất. Dưới góc độ văn hóa dân gian, người Việt có nguồn gốc “con Rồng, cháu Tiên” gắn với truyền thuyết Lạc Long Quân (Rồng - Cha) và Âu Cơ (Tiên - Mẹ). Trong xã hội phong kiến, đặc biệt Nho giáo coi hình tượng “Rồng” gắn với Thiên tử - Vua, biểu tượng sức mạnh và quyền lực. Trong Phật giáo, hình tượng Rồng gắn với sự tôn nghiêm, đức hạnh cao quý. Hình tượng “Rồng” mang yếu tố Dương, hình tượng “Tiên” mang yếu tố Âm, biểu tượng cho sự hòa hợp Âm - Dương, sự sinh sôi, phát triển và thịnh vượng.
Hình tượng tiên nữ cưỡi rồng không chỉ mang giá trị nghệ thuật mà còn chứa đựng ý nghĩa tâm linh sâu sắc. Trong văn hóa Việt, rồng là biểu tượng của quyền lực, sự cao quý và may mắn, trong khi tiên nữ đại diện cho vẻ đẹp, sự thanh cao và thuần khiết. Sự kết hợp giữa tiên nữ và rồng biểu thị cho sự hòa hợp giữa trời và đất, giữa con người và thần linh, phản ánh khát vọng về một cuộc sống an lành, hạnh phúc và thịnh vượng. Đồng thời, hình tượng này cũng thể hiện triết lý nhân sinh sâu sắc, đề cao sự cân bằng, hòa hợp trong vũ trụ và xã hội. Vì vậy sự hòa quyện Tiên - Rồng, Âm - Dương, Mẹ - Cha, vừa mang ý nghĩa dân gian, vừa mang ý nghĩa triết lý sâu sắc về thế giới quan, nhân sinh quan; đồng thời thể hiện tư tưởng, nghệ thuật đương thời, là một minh chứng sống động cho sự kết hợp hài hòa giữa nghệ thuật, tôn giáo và triết lý sống của người Việt xưa.
Ba bia đá thơi Lê trung hưng chùa Keo Hành Thiện là hiện vật có giá trị đặc biệt quý hiếm, tiêu biểu về Phật giáo thời Lý và sự nghiệp hoằng dương Phật pháp của Đức Thánh Tổ Dương Không Lộ.
Đức Thánh Dương Không Lộ là một nhân vật lịch sử, vị Thiền sư, Quốc sư, Đại pháp sư nổi tiếng thời Lý - người có nhiều công lao với triều đình, đất nước và nhân dân như: chữa bệnh cho vua Lý, dạy dân nghề đánh cá, cứu giúp nhân dân với nhiều phép lạ… Đặc biệt là các địa phương vùng đồng bằng sông Hồng còn lưu truyền nhiều truyền thuyết về cuộc đời, hành trạng của một vị Thiền sư, một nhân vật lịch sử - văn hóa có tầm vóc phi thường, được nhân dân tôn sùng là “Nam Thiên Thánh Tổ” (vị Thánh Tổ ở trời Nam). Vì vậy, nội dung văn bia vừa khắc ghi, tôn vinh công lao của Thiền sư Không Lộ, vừa phản ánh tư tưởng Phật giáo đương thời, luôn gắn bó, hòa quyện với đời sống nhân dân, cứu khổ, cứu nạn, hướng con người tới những giá trị tốt đẹp.
Ngoài ra, nội dung văn bia cung cấp nhiều thông tin liên quan đến di tích và nhân vật thờ, bao gồm: tên gọi, lịch sử, vị trí địa lý chùa, quy mô xây dựng và các công trình kiến trúc, thờ tự trong chùa; ngợi ca vua hiền tôi giỏi, đất nước thái bình thịnh trị, nhân dân ấm no, hạnh phúc.
Sự tồn tại phát triển của cụm bia đá gắn với quá trình hình thành và phát triển của làng Hành Thiện - làng khoa bảng nổi tiếng với câu ca:“Đông Cổ Am, nam Hành Thiện”. Đó là một cộng đồng tôn sùng Phật giáo, coi trọng Nho giáo học hành, khoa cử đã sản sinh ra nhiều nhà khoa bảng nổi tiếng, nhiều gia đình hiếu học, nhiều dòng họ khoa bảng, làm nổi danh mảnh đất Hành Thiện “địa linh nhân kiệt”, góp phần lan tỏa các giá trị lịch sử - văn hóa ra khắp cả nước. Thông qua nội dung văn bia góp phần giúp người dân địa phương và du khách hiểu rõ hơn về lịch sử, truyền thống văn hóa của nhân dân địa phương, làm nên bản sắc văn hóa quê hương; đồng thời là niềm tự hào của mỗi người dân địa phương, là sợi dây gắn kết cộng đồng, sự đoàn kết để cùng phát triển.
Với những giá trị tiêu biểu về lịch sử, văn hóa, kiến trúc nghệ thuật, năm 1962, chùa Keo Hành Thiện được Bộ Văn hóa xếp hạng di tích Lịch sử - văn hóa quốc gia. Năm 2016, chùa Keo Hành Thiện được xếp hạng di tích Kiến trúc nghệ thuật quốc gia đặc biệt. Năm 2019, Lễ hội chùa Keo Hành Thiện được Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.
Việc công nhận ba bia đá thời Lê trung hưng là Bảo vật quốc gia tiếp tục khẳng định giá trị nổi bật của quần thể di tích chùa Keo Hành Thiện; đồng thời góp phần bảo tồn và phát huy nguồn tư liệu đá quý hiếm phục vụ nghiên cứu lịch sử, văn hóa và Phật giáo Việt Nam.