CHÀO MỪNG ĐẾN VỚI CỔNG THÔNG TIN BẢO TÀNG NINH BÌNH!

Bảo vật Quốc gia: Long sàng trước Nghi môn ngoại đền thờ vua Đinh Tiên Hoàng, Khu di tích Quốc gia đặc biệt Cố đô Hoa Lư.

Nằm trong quần thể Khu di tích Quốc gia đặc biệt Cố đô Hoa Lư (Phường Tây Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình) – kinh đô đầu tiên của nhà nước phong kiến tập quyền Việt Nam thế kỷ X, đền thờ Đinh Tiên Hoàng không chỉ là một không gian linh thiêng gắn với lịch sử dựng nước và giữ nước, mà còn là nơi lưu giữ nhiều di sản quý giá phản ánh chiều sâu văn hóa, tư tưởng và nghệ thuật dân tộc. Trong số đó, Long sàng trước Nghi môn ngoại nổi bật như một dấu ấn đặc biệt, vừa mang ý nghĩa biểu tượng quyền lực, vừa là một kiệt tác điêu khắc độc đáo. Hiện vật đã được công nhận là Bảo vật quốc gia theo Quyết định số 2090/QĐ-TTg ngày 25/12/2017 của Thủ tướng Chính phủ. Long sàng là hiện vật độc bản do triều đình thời Lê - Trịnh tạo tác, làm đồ tế khí tại đền thờ vua Đinh Tiên Hoàng từ đầu thế kỷ XVII và vẫn được bảo tồn gần như nguyên vẹn cho đến ngày nay. Hiện vật được chế tác từ một khối đá xanh có dạng hình hộp chữ nhật, nặng khoảng 1,5 tấn. Mặt sập hình chữ nhật, rộng 127 cm, dài 187 cm; chân đế rộng 134 cm, dài 196 cm, hơi choãi tạo dáng chân quỳ vững chãi. Ngay giữa Long sàng được trang trí hình rồng cuộn mang đầy đủ các nét đặc trưng của rồng thời Lê – Trịnh, thân uốn kiểu yên ngựa, đầu to, bờm lớn ngược ra phía sau, miệng há to ngậm viên châu, răng nanh sắc nhọn, sừng hai chạc, đuôi rồng vuốt về phía sau rất uy nghi. Trong không gian thờ cúng của người Việt thường xuất hiện nhiều sập đá với bề mặt trơn, phẳng, duy nhất chỉ có sập đá trước Nghi môn ngoại và trước Bái đường đền thờ vua Đinh Tiên Hoàng có trang trí hoa văn rồng cuộn trên mặt sập thể hiện sự uy quyền của bậc đế vương. Điểm nhấn hết sức đặc sắc của Long sàng là những chi tiết điêu khắc trên đó được nhân hóa rất lạ. Cả bốn chi của rồng thay vì tạo hình chân móng vuốt chim ưng như truyền thống lại đang mang dáng hình cánh tay người nhỏ nhắn, thon dài, nữ tính. Hai bàn tay ở vị trí chi trước nắm chặt sừng và bờm rồng; ở vị trí chi sau, một cánh tay thon mềm vít râu rồng, tay còn lại xòe ngón đạp chơi vơi trong khoảng không. Thân rồng đang vặn mình, ngửa bụng lên trời. Cách tạo tác chi rồng trên Long sàng thành cánh tay, bàn tay vũ nữ mềm mại hay rồng ngửa bụng được đánh giá là hiếm có trong lịch sử mỹ thuật truyền thống Việt Nam, thể hiện sự tài tình, khéo léo và phá cách mạnh mẽ trong trí tưởng tượng của nghệ nhân điêu khắc xưa. Bên cạnh đó, Long sàng còn gây ấn tượng bởi sự xuất hiện của hình tượng sư tử được chạm khắc rất sắc nét giữa hai chi sau của rồng. Không giống các đồ án trang trí sư tử cách điệu thành linh vật trong mỹ thuật truyền thống Việt Nam và phương Đông, sư tử trên long sàng trước Nghi môn ngoại được chạm khắc chân thực, đúng với hình ảnh sư tử ngoài đời thực: bờm dày, ức nở, bụng thon, dáng vẻ uy phong nhưng không hung tợn, chân trước giơ lên như muốn đỡ lấy chân rồng. Nhiều nghiên cứu về mỹ thuật truyền thống cho thấy, đồ án trang trí hình sư tử theo kiểu thức như trên bề mặt long sàng trước Nghi môn ngoại đền thờ vua Đinh Tiên Hoàng là đầu tiên và duy nhất ở Việt Nam cho đến nay. Ngoài ra, bốn chân của Long sàng được tạo tác với đồ án quỷ Dạ xoa dữ tợn. Sự hiện diện của các ác quỷ trên ngai bệ thể hiện sự thần bí, thiêng liêng và mang ý nghĩa nhắc nhở người ta về địa vị, quyền lực của hình tượng được biểu đạt. Trải qua nhiều biến động của lịch sử, đặc biệt là những năm tháng chiến tranh khốc liệt, Long sàng vẫn được bảo tồn khá nguyên vẹn, trở thành minh chứng sống động cho giá trị bền vững của di sản văn hóa dân tộc. Không chỉ là một hiện vật thờ tự đơn thuần, Long sàng còn là kết tinh của tài năng, óc sáng tạo và quan niệm thẩm mỹ của người Việt ở thế kỷ XVII. Từng đường nét chạm khắc tinh xảo trên hiện vật không chỉ phản ánh trình độ kỹ thuật điêu luyện mà còn thể hiện sự giao thoa, tiếp biến văn hóa giữa Việt Nam với Trung Hoa và Ấn Độ. Có thể khẳng định rằng, Long sàng trước Nghi môn ngoại đền thờ Vua Đinh Tiên Hoàng là một trong những tác phẩm tiêu biểu và độc đáo của nghệ thuật điêu khắc đá Việt Nam. Với giá trị lịch sử, văn hóa và mỹ thuật đặc sắc, hiện vật không chỉ góp phần làm phong phú thêm diện mạo của di sản Cố đô Hoa Lư mà còn giúp thế hệ hôm nay và mai sau hiểu rõ hơn về chiều sâu văn hóa, tinh thần sáng tạo của dân tộc Việt Nam trong dòng chảy lịch sử.

Bộ Phủ Việt tại đền thờ vua Đinh Tiên Hoàng

Bộ Phủ Việt (Số đăng ký: BVQG.NB.004), hiện lưu giữ tại đang được lưu tại đền thờ Vua Đinh Tiên Hoàng, Phường Tây Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, được công nhận là Bảo vật quốc gia tại Quyết định số 88/QĐ-TTg ngày 15/01/2020 của Thủ tướng Chính phủ. Theo Các văn bia còn lưu giữ tại di tích cho thấy, đền thờ Vua Đinh Tiên Hoàng trải qua nhiều lần trùng tu vào thời Hậu Lê và Nguyễn, trong đó có 02 lần trùng tu lớn vào thời Lê Trung Hưng, thế kỷ XVII. Tấm bia Tiền triền Đinh Tiên Hoàng Đế miếu công đức bi ký, lập năm Thiệu Trị thứ 3 (1843) ghi lại khoảng cuối những năm Quang Hưng đến đầu những năm Vĩnh Trị thời Hậu Lê đền được xây dựng lại, quay hướng đông. Tấm bia Tiền triền Đinh Tiên Hoàng Đế miếu công đức bi ký tịnh minh lập năm Mậu Thân – Hoằng Định thứ 9 (1608) cho biết chúa Trịnh Tùng đã sai Quận công Bùi Thời Trung trùng tu đền. Đến năm Bính Thìn - Vĩnh Trị thứ nhất (1676) trùng tu lớn cả hai đền thờ Vua Đinh và Vua Lê. Cuối thế kỷ XVII, năm Bình Tý niên hiệu Chính Hòa 17 (1696) đền được trùng tu một lần nữa, sự việc được ghi lại tại văn bia Tiền triều Đinh Tiên Hoàng đế công đức tăng tu điện miếu bi ký. Cũng theo nội dung bia này cho thấy việc trùng tu đền thờ Vua Đinh Tiên Hoàng, tạo tác và đặt đồ tế khí trong không gian thờ cúng tại đền Vua Đinh Tiên Hoàng là việc làm của nhân dân để tưởng nhớ Đinh Tiên Hoàng đế. Vì vậy, có thể khẳng định: Phủ Việt tại đền thờ Vua Đinh Tiên Hoàng được tạo tác trong giai đoạn trùng tu (1608 -1696). Bộ Phủ Việt được làm bằng gỗ sơn son thếp vàng, gồm 02 cái, đặt đối xứng nhau hai bên nhang án ở tòa bái đường đền thờ Vua Đinh Tiên Hoàng. Phủ Việt bên trái dài tổng thể 300cm, dày 07cm, gồm 3phần: Phần đầu (dài 115cm, rộng 81cm), cán (dài 185cm, chu vi cán 25cm) và phần lưỡi (rộng 29 cm, chu vi lưỡi 31 cm); Phủ Việt bên phải dài tổng thể 299cm, dày 07 cm, gồm 3phần: Phần đầu (dài 118cm, rộng 81,5cm), cán (dài 181cm, chu vi cán 25cm), lưỡi (rộng 29 cm, chu vi lưỡi 30 cm); Mỗi bên nặng 45kg. Phủ Việt đền Vua Đinh Tiên Hoàng được chế tác dựa trên hình ảnh chiếc rùi chiến kết hợp đinh ba, là một trong những binh khí làm đồ chấp kích - lỗ bộ trong hệ thống đồ tế khí tại đền thờ các vị anh hùng dân tộc, trở thành vật thiêng trong không gian thờ cúng của người Việt. Phủ Việt ở đền thờ Vua Đinh Tiên Hoàng được trang trí tinh xảo và cầu ký, cách điệu khác xa với hình thức thực tế, trở thành một tác phẩm điêu khắc độc đáo. Bộ Phủ Việt có niên đại thế kỷ XVII, còn khá nguyên vẹn, bao gồm 03 phần: Phần đầu, phần lưỡi và phần cán. Phần đầu được tạo thành từ một con rồng lớn và năm con rồng con, tạo thành một ổ rồng. Rồng mẹ thân uốn thành 09 khúc. Năm rồng con xoắn xuýt uốn lượn, ẩn hiện trong những đao lửa của rồng mẹ. Những rồng con có thân nhào xuống dưới, đuôi ngược lên phía trên giống như rồng mẹ. Phần lưỡi được tạo thành từ một quầng lửa phun ra từ miệng rồng lớn, mang hình dáng như một lưỡi rìu, sơn son. Phần thân có tiết diện bát giác, kích thước rất lớn, một tay không thể nắm hết (Các Phủ Việt hiện có ở Việt Nam phần thân thường có thiết diện hình tròn). Các họa tiết hoa văn đao mác, sóng nước, đao phủ trên Phủ Việt đền thờ Vua Đinh Tiên Hoàng là hoa văn đặc trưng của nghệ thuật điêu khác thế kỷ XVII. Phủ Việt đền thờ Vua Đinh Tiên Hoàng là hiện vật gốc, độc bản, mang giá trị đặc biệt của giai đoạn đỉnh cao của nghệ thuật điêu khác gỗ dân gian Việt Nam thế kỷ XVII với những đường nét trạm nổi, trạm thông phong tỉ mỉ, tinh tế, tạo nên những đường cong uyển chuyển, thanh thoát cùng với kỹ thuật sơn son thếp vàng đạt tới đỉnh cao nên đã trải qua trên 400 năm vẫn giữ được màu sắc như xưa. Phủ Việt của Việt Nam nói chung, Phủ Việt thờ ở đền Vua Đinh Tiên Hoàng nói riêng có những đặc điểm riêng biệt hết sức rõ ràng, từ kỹ thuật chạm khắc sơn bó, sơn son thếp vàng đến ý nghĩa biểu tượng trong đời sống xã hội, phản ánh về một nền văn hóa tâm linh đặc sắc của người Việt Nam, không chỉ là biểu hiện cho thần quyền mà còn thể hiện ý thức về cội nguồn dân tộc. Trải qua thời gian, các hiện vật khác trong bộ chấp kích chế tác trong giai đoạn này bị hư hỏng, thất lạc, hiện chỉ còn lưu giữ nguyên vẹn bộ Phủ Việt và bộ quả chùy bị sứt mẻ nhiều hoa văn họa tiết. Phủ Việt cùng với các hiện vật khác trong bộ chấp kích ( đã được phục chế) bài trí trong không gian thờ cúng hiện nay đã góp phần tạo nên sự uy nghiêm trong không gian thờ cúng ở đền thờ Vua Đinh Tiên Hoàng. Phủ Việt ở đền thờ Vua Đinh Tiên Hoàng là tác phẩm nghệ thuật điêu khắc gỗ độc đáo thể hiện tài năng của người sáng tạo và bàn tay khéo léo của nghệ nhân thế kỷ XVII. Các họa tiết hoa văn và sự cách điệu một loại vũ khí thành một tác phẩm điêu khắc gỗ với đề án rồng ổ mang hàm nghĩa về sức mạnh dân tộc, về tinh thần đoàn kết và khát vọng hòa bình, khát vọng tự do của dân tộc Việt Nam. Với những giá trị độc đáo và nổi bật, Phủ Việt tại đền thờ Vua Đinh Tiên Hoàng là một tài liệu vật chất quan trọng để nghiên cứu văn hóa, nghệ thuật thế kỷ XVII ở nước ta. Bộ Phủ Việt tại Đền thờ Vua Đinh Tiên Hoàng là hiện vật gốc độc bản, tiêu biểu cho nghệ thuật điêu khắc gỗ dân gian Việt Nam thế kỷ XVII. Với giá trị nổi bật về lịch sử, nghệ thuật và văn hóa, hiện vật không chỉ phản ánh trình độ chế tác tinh xảo của các nghệ nhân xưa mà còn thể hiện truyền thống tôn vinh và tri ân Đinh Tiên Hoàng – vị vua có công thống nhất đất nước, lập nên nhà nước Đại Cồ Việt. Việc được công nhận là Bảo vật quốc gia càng khẳng định giá trị đặc biệt của hiện vật trong kho tàng di sản văn hóa dân tộc.

Bảo vật quốc gia “Ba bia đá thời Lê Trung Hưng tại chùa Keo Hành Thiện, xã Xuân Hồng, tỉnh Ninh Bình”.

Ngày 03/02/2026, Phó Thủ tướng Chính phủ Mai Văn Chính ký Quyết định số 236/QĐ-TTg về việc công nhận bảo vật quốc gia (Đợt 14) cho 30 hiện vật, nhóm hiện vật tiêu biểu trong cả nước, trong đó có ba bia đá thời Lê trung hưng tại chùa Keo Hành Thiện, xã Xuân Hồng, tỉnh Ninh Bình. Chùa Keo Hành Thiện (Thần Quang tự) tại xã Xuân Hồng, tỉnh Ninh Bình, được khởi dựng từ thời Lý (1061), ban đầu có tên là Nghiêm Quang, sau đổi Thần Quang. Chùa do Đức Thánh Tổ Dương Không Lộ xây dựng trên đất Giao Thủy, phủ Hải Thanh, vì vậy dân gian gọi là chùa Giao Thủy. Từ “Giao” có âm Nôm là “Keo”, vì vậy còn gọi là chùa Keo. Năm 1611, tại đây xảy ra trận lụt lớn, làm vỡ đê, gây lụt lớn, chôn vùi nhiều làng, xã và các công trình kiến trúc, trong đó có có ngôi cổ tự Thần Quang. Sau đó, nhân dân địa phương di chuyển chùa sang hai bên tả, hữu sông Hồng; một bộ phận dời sang tả ngạn sông Hồng lập làng Dũng Nhuệ (nay là xã Vũ Tiên, tỉnh Hưng Yên); phần chuyển sang hữu ngạn lập nên làng Hành Cung, gọi là chùa Keo Hành Thiện. Hiện nay, tại di tích lưu giữ nhiều di vật, cổ vật có giá trị lịch sử văn hóa như: tượng thờ, sắc phong, kiệu, hoành phi, câu đối… ; đặc biệt có ba bia đá thời Lê Trung hưng đặt tại tam quan chùa. Ba bia đá gồm: -“Tu tạo Thần Quang tự bi ký”, niên hiệu Hoằng Định 13 (1613). - Thần Quang tự Đại pháp sư bi - Nam mô A di đà Phật” niên hiệu Cảnh Trị 9 (1671) - “Hưng chú Thánh tượng Đại pháp sư bi ký - Nam mô a di đà Phật”, niên hiệu Chính Hòa 25 (1704) Ba bia đá thời Lê trung hưng thế kỷ XVII-XVIII tại chùa Keo Hành Thiện là những hiện vật gốc độc bản trong hệ thống bia đá tại Việt Nam, được bảo tồn nguyên gốc, chưa bị can thiệp, sai lệch về nội dung hoặc hình thức. Bên cạnh đó, ba bia đá có hình thức độc đáo, được tạo tác với hình dáng vững chãi, bố cục, hình khối cân xứng hài hòa, có kích thước lớn, đề tài trang trí phong phú thể hiện sự sáng tạo và kỹ thuật chạm khắc đá điêu luyện bậc nhất vào thế kỷ XVII - XVIII. Trên ba bia đá chạm khắc nhiều đề tài, bao gồm: các linh vật, cỏ, cây, hoa, lá, họa tiết hoa văn… vô cùng đặc sắc phản ánh sự tài hoa, trí sáng tạo, tư duy thẩm mỹ nghệ thuật của nghệ nhân đương thời. Các linh vật gồm: rồng, phượng, nghê, hổ, hươu, chó ngao… với nhiều kiểu dáng khác nhau, phản ánh các tầng lớp xã hội đương thời. Các linh vật: rồng chầu mặt nguyệt, rồng chầu mặt trời, rồng cuộn ổ, rồng cuốn… được tạo hình ở phía trên, biểu trưng cho vua và tầng lớp quý tộc. Các loài vật: hươu, nai, chó ngao… được tạo hình ở phía dưới tượng trưng cho tầng lớp nhân dân gồm sĩ, nông, công, thương… Sự đan xen, hòa quyện giữa các giai tầng xã hội tạo lên bức tranh sinh động về đời sống văn hóa, kinh tế - xã hội đương thời. Đặc biệt, trên trán bia“Thần Quang tự Đại pháp sư bi” trang trí đề tài “Tiên nữ cưỡi rồng” là hình tượng văn hóa đặc sắc, nổi bật nhất. Dưới góc độ văn hóa dân gian, người Việt có nguồn gốc “con Rồng, cháu Tiên” gắn với truyền thuyết Lạc Long Quân (Rồng - Cha) và Âu Cơ (Tiên - Mẹ). Trong xã hội phong kiến, đặc biệt Nho giáo coi hình tượng “Rồng” gắn với Thiên tử - Vua, biểu tượng sức mạnh và quyền lực. Trong Phật giáo, hình tượng Rồng gắn với sự tôn nghiêm, đức hạnh cao quý. Hình tượng “Rồng” mang yếu tố Dương, hình tượng “Tiên” mang yếu tố Âm, biểu tượng cho sự hòa hợp Âm - Dương, sự sinh sôi, phát triển và thịnh vượng. Hình tượng tiên nữ cưỡi rồng không chỉ mang giá trị nghệ thuật mà còn chứa đựng ý nghĩa tâm linh sâu sắc. Trong văn hóa Việt, rồng là biểu tượng của quyền lực, sự cao quý và may mắn, trong khi tiên nữ đại diện cho vẻ đẹp, sự thanh cao và thuần khiết. Sự kết hợp giữa tiên nữ và rồng biểu thị cho sự hòa hợp giữa trời và đất, giữa con người và thần linh, phản ánh khát vọng về một cuộc sống an lành, hạnh phúc và thịnh vượng. Đồng thời, hình tượng này cũng thể hiện triết lý nhân sinh sâu sắc, đề cao sự cân bằng, hòa hợp trong vũ trụ và xã hội. Vì vậy sự hòa quyện Tiên - Rồng, Âm - Dương, Mẹ - Cha, vừa mang ý nghĩa dân gian, vừa mang ý nghĩa triết lý sâu sắc về thế giới quan, nhân sinh quan; đồng thời thể hiện tư tưởng, nghệ thuật đương thời, là một minh chứng sống động cho sự kết hợp hài hòa giữa nghệ thuật, tôn giáo và triết lý sống của người Việt xưa. Ba bia đá thơi Lê trung hưng chùa Keo Hành Thiện là hiện vật có giá trị đặc biệt quý hiếm, tiêu biểu về Phật giáo thời Lý và sự nghiệp hoằng dương Phật pháp của Đức Thánh Tổ Dương Không Lộ. Đức Thánh Dương Không Lộ là một nhân vật lịch sử, vị Thiền sư, Quốc sư, Đại pháp sư nổi tiếng thời Lý - người có nhiều công lao với triều đình, đất nước và nhân dân như: chữa bệnh cho vua Lý, dạy dân nghề đánh cá, cứu giúp nhân dân với nhiều phép lạ… Đặc biệt là các địa phương vùng đồng bằng sông Hồng còn lưu truyền nhiều truyền thuyết về cuộc đời, hành trạng của một vị Thiền sư, một nhân vật lịch sử - văn hóa có tầm vóc phi thường, được nhân dân tôn sùng là “Nam Thiên Thánh Tổ” (vị Thánh Tổ ở trời Nam). Vì vậy, nội dung văn bia vừa khắc ghi, tôn vinh công lao của Thiền sư Không Lộ, vừa phản ánh tư tưởng Phật giáo đương thời, luôn gắn bó, hòa quyện với đời sống nhân dân, cứu khổ, cứu nạn, hướng con người tới những giá trị tốt đẹp. Ngoài ra, nội dung văn bia cung cấp nhiều thông tin liên quan đến di tích và nhân vật thờ, bao gồm: tên gọi, lịch sử, vị trí địa lý chùa, quy mô xây dựng và các công trình kiến trúc, thờ tự trong chùa; ngợi ca vua hiền tôi giỏi, đất nước thái bình thịnh trị, nhân dân ấm no, hạnh phúc. Sự tồn tại phát triển của cụm bia đá gắn với quá trình hình thành và phát triển của làng Hành Thiện - làng khoa bảng nổi tiếng với câu ca:“Đông Cổ Am, nam Hành Thiện”. Đó là một cộng đồng tôn sùng Phật giáo, coi trọng Nho giáo học hành, khoa cử đã sản sinh ra nhiều nhà khoa bảng nổi tiếng, nhiều gia đình hiếu học, nhiều dòng họ khoa bảng, làm nổi danh mảnh đất Hành Thiện “địa linh nhân kiệt”, góp phần lan tỏa các giá trị lịch sử - văn hóa ra khắp cả nước. Thông qua nội dung văn bia góp phần giúp người dân địa phương và du khách hiểu rõ hơn về lịch sử, truyền thống văn hóa của nhân dân địa phương, làm nên bản sắc văn hóa quê hương; đồng thời là niềm tự hào của mỗi người dân địa phương, là sợi dây gắn kết cộng đồng, sự đoàn kết để cùng phát triển. Với những giá trị tiêu biểu về lịch sử, văn hóa, kiến trúc nghệ thuật, năm 1962, chùa Keo Hành Thiện được Bộ Văn hóa xếp hạng di tích Lịch sử - văn hóa quốc gia. Năm 2016, chùa Keo Hành Thiện được xếp hạng di tích Kiến trúc nghệ thuật quốc gia đặc biệt. Năm 2019, Lễ hội chùa Keo Hành Thiện được Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Việc công nhận ba bia đá thời Lê trung hưng là Bảo vật quốc gia tiếp tục khẳng định giá trị nổi bật của quần thể di tích chùa Keo Hành Thiện; đồng thời góp phần bảo tồn và phát huy nguồn tư liệu đá quý hiếm phục vụ nghiên cứu lịch sử, văn hóa và Phật giáo Việt Nam.

Bia Sùng Thiện Diên Linh - Bảo vật quốc gia thời Lý

Ngày 30/12/2013, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 2599/QĐ-TTg công nhận Bia Sùng Thiện Diên Linh - hiện đang được lưu giữ tại Di tích quốc gia đặc biệt chùa Long Đọi Sơn (phường Tiên Sơn, tỉnh Ninh Bình) là Bảo vật quốc gia Bia được dựng ngày 6 tháng 7 niên hiệu Thiên Phù Duệ Vũ 2 (1121), chất liệu đá xanh nguyên khối, cao 2,5m, rộng 1,75m, dày 0,30m, trán bia cao 0,30m; bệ bia hình bầu dục cao 0,50m, dài 2,4m, rộng 1,8m. Bia khắc chữ Hán ở hai mặt. Mặt trước có 4.257 chữ, trên trán khắc tên bia: “Đại Việt quốc đương gia Đệ tứ đế Sùng Thiện Diên Linh tháp bi” (Bia tháp Sùng Thiện Diên Linh, vua thứ tư đương triều nước Đại Việt) do vua Lý Nhân Tông ngự đề theo lối chữ phi bạch, chia thành 7 hàng dọc mỗi hàng hai chữ, đây là tư liệu quan trọng để tìm hiểu về nghệ thuật thư pháp thời Lý. Lòng bia khắc bi văn, minh văn và dòng lạc khoản do Triều liệt Hình bộ Thượng thư, Binh bộ Viên ngoại lang, Đồng tri phiên công viện chủ sự Nguyễn Công Bật soạn; Hữu Thị lang, Thượng thư Công bộ Viên ngoại lang Đồng tri Thẩm hình viện sự, Thượng khinh xa Đô Úy Tử kim ngư Lý Bảo Cung viết chữ. Nội dung được chia thành ba phần rõ rệt: Phần đầu ca ngợi Đức Phật Thích Ca và giáo lý sâu sắc của Phật giáo Phần thứ hai ca ngợi vua Lý Nhân Tông, từ điềm thiêng lúc đầu thai khi ra đời, tài năng, công đức dựng chùa, xây tháp đến sự trị vì đất nước thịnh trị của nhà vua. Văn bia còn ca ngợi Thái úy Lý Thường Kiệt – một nhân vật lịch sử nổi tiếng thời Lý và cung cấp những thông tin quý hiếm về Hội đèn Quảng Chiếu bảy ngày bảy đêm ở kinh thành Thăng Long thời Lý, múa rối nước, nghi lễ mật giáo, sửa chùa Diên Hựu (chùa Một Cột) cùng các trò chơi giải trí dân gian và cung đình. Phần ba kể lại quá trình xây dựng tháp Sùng Thiện Diên Linh và ngôi chùa Long Đọi Sơn. Mặt sau, lòng bia khắc thành năm đoạn với năm niên đại khác nhau, cỡ chữ to nhỏ khác nhau: Đoạn thứ nhất khắc vào ngày 6 tháng 7 niên hiệu Thiên Phù Duệ Vũ 2 (1121) ghi lại việc Phù thánh linh nhân Thái hậu (Ỷ Lan) mẹ vua Lý Nhân Tông, tiến cúng 72 mẫu ruộng ở xứ Mạn Để hai xã Cẩm Trục, Thu Lãng huyện Cẩm Giang, phủ Thượng Hồng. Đoạn thứ hai khắc bài thơ của vua Lê Thánh Tông làm vào năm thứ 8 niên hiệu Quang Thuận (1467) khi về qua thăm chùa, do bề tôi là Lê Văn tướng quân vâng mệnh viết chữ. Đoạn thứ ba khắc vào tiết Đoan dương ngày mồng 5 tháng 5 năm Tân Mão niên hiệu Hưng Trị 4 (1591) ghi về việc cai huyện Duy Tân, Đô chỉ huy Vân Bảng bá, Đồng ty quan Phú Triều bá, Phù Thắng bá, Cai quan Lam Kiều bá cùng giáp Nhất, giáp Nhì, giáp Tam xã Đội Sơn cùng các xã Đội Trung, Đội Lĩnh, Trung Tín dựng lại bia đổ, bắc lại xà nhà, tu bổ tượng hỏng, làm lại cổng, xây tường sau hơn năm trăm năm bị hủy hoại hư hỏng. Đoạn thứ tư khắc vào ngày mồng 7 đầu tháng 10 niên hiệu Chính Hòa 19 (1698) ghi nội dung văn ước các thửa đất ruộng Tam bảo của xã Đội Sơn. Đoạn thứ năm, chữ bị mờ và mất nhiều, ghi lại khoảng hơn 40 thửa ruộng, ao, diện tích xứ đồng, giáp ranh, họ tên của tín chủ ở các thôn xã tiến cúng ruộng, ao cho Tam bảo chùa Đội Sơn. Không chỉ có giá trị lịch sử, bia Sùng Thiện Diên Linh còn là một kiệt tác điêu khắc đá. Mặt trước, trán bia hình cung, chia làm ba băng trang trí, trung tâm tạo một khung ô hình chữ nhật khắc nổi tên bia, chữ cỡ lớn theo lối chữ phi bạch do vua Lý Nhân Tông ngự đề. Hai bên ô chữ tạo thành hai góc nhọn đều đối xứng, bên trong trang trí đăng đối đồ án rồng chầu vào tên bia, gồm hai rồng. Rồng kéo dài thể hiện theo lối nhìn nghiêng, đầu rồng ngước lên cao. Thân rồng cuộn khúc uốn lượn thuôn dần đến cuối đuôi trùng khít với phần diềm của trán bia. Mình rồng tròn trơn uốn lượn mềm mại hình sin, các khúc uốn lượn phình to nhưng co lại gần nhau, đều đặn thon dần về đuôi. Rồng có ba chân đạp mây vươn về phía trước, mỗi chân đều có khuỷu và ba móng. Xung quanh rồng tạo thành những dải mây hình lửa đan xen quanh chân rồng. Trên lưng rồng lớn là một con rồng chầu nhỏ uốn lượn nằm dàn trên bốn khúc lượn của rồng lớn, tạo nên một đôi rồng ổ (mẫu tử). Phía dưới phần tiếp giáp với đôi rồng tạo một đường băng hoa văn đối xứng nhau, được trang trí hình lá đề cách điệu, thành dạng dấu hỏi. Diềm trên trán bia hình vòng cung chạm khắc các con rồng nối tiếp nhau. Diềm dưới của trán bia hình chữ nhật cũng chạm các con rồng nối tiếp nhau, nhưng đáng chú ý là khoảng giữa có một ô trang trí lá đề. Diềm bên của thân bia cũng được trang trí khá công phu tỉ mỉ. Đồ án trang trí là hình tượng rồng, gồm những con rồng nhỏ, thân mảnh, dàn đều trong khoảng rộng của diềm bia. Phần đuôi rồng uốn lượn hình sin thu dần về cuối đuôi. Đầu rồng ở diềm bia hai bên đều ở tư thế vươn lên phía trên hướng về trán bia. Thành bia hai bên trang trí khá độc đáo, mỗi bên tạo 9 ô quả trám vuông hình cạnh 8cm, nối tiếp nhau. Hai góc bên quả trám tiếp giáp với rìa cạnh, góc trên, góc dưới nối tiếp nhau tạo thành một băng trang trí khép kín từ trên xuống dưới. Đường viền cạnh của quả trám khắc sâu tạo thành đường soi chỉ. Trung tâm quả trám chạm một đôi rồng chầu, rồng uốn lượn, đầu chầu vào nhau, đuôi nối nhau thành một đường khép kín. Xung quanh là những con rồng nhỏ nối tiếp nhau theo hình quả trám. Bệ đá đội bia hình bầu dục cao 50cm, dài 2,4m, rộng 1,8m. Mặt bia chia thành hai phần đối xứng nhau. Ở giữa tạo hộc đặt bia. Hai mặt trên bệ bia mỗi bên chạm hai con rồng. Rồng được chạm nổi khối, thân to tròn trơn uốn thành năm khúc, đầu chầu vào nhau hướng lên phía trên bia. Hai thân rồng đối xứng cuộn đều ra phần bệ bia. Đuôi rồng giao nhau, uốn khít hình “vặn thừng” thon nhỏ dần. Rồng có ba chân lớn, năm móng nhọn bám chặt xuống bệ bia. Phần bệ bia tiếp giáp với nền, xung quanh tạo thành hai lớp hoa văn sóng nước. Lớp trên tạo sóng nước hình quả núi, mỗi sóng nước có ba ngọn cao thấp khác nhau. Xen giữa các ngọn sóng là ba gợn sóng hình vòng cung. Lớp dưới tạo thành sóng nước hình cung cũng gồm ba lớp sóng. Mặt sau, trán bia được chạm khắc trang trí khác với mặt trước. Giữa trán bia chạm nổi hình lá đề biến thể, hai bên mỗi bên chạm một con rồng lớn chầu vào lá đề. Cũng giống như trán bia mặt trước, trên lưng đôi rồng lớn là một đôi rồng nhỏ, uốn lượn mềm mại theo những uốn khúc của rồng lớn. Hình tượng rồng và đồ án trang trí trên diềm trán bia, diềm hai bên thân bia cùng phong cách với mặt trước bia. Với nội dung phong phú, nghệ thuật chạm khắc tinh vi và giá trị tư liệu đặc biệt, bia Sùng Thiện Diên Linh là một trong những tấm bia thời Lý tiêu biểu và quan trọng nhất hiện còn trên địa bàn tỉnh Ninh Bình, đồng thời là một nguồn tư liệu quý giá để nghiên cứu về Phật giáo, lịch sử, văn hóa và nghệ thuật thời Lý. Trải qua gần nghìn năm, bia Sùng Thiện Diên Linh vẫn đứng vững trên đỉnh Long Đọi Sơn, lặng lẽ chứng kiến bao biến thiên của lịch sử và cuộc sống. Từ triều Lý hưng thịnh đến những thời kỳ tiếp nối, tấm bia luôn được nhân dân trân trọng gìn giữ, như một phần không thể tách rời của ký ức dân tộc. Ngày nay, việc bảo tồn và phát huy giá trị của Bia Sùng Thiện Diên Linh không chỉ là gìn giữ một bảo vật quốc gia, mà còn là gìn giữ mạch nguồn văn hóa, để tinh thần Đại Việt tiếp tục được lan tỏa trong đời sống đương đại và truyền lại cho các thế hệ mai sau.

Giá trị độc đáo của bảo vật quốc gia “Sách đồng Khâm ban của vua Lê Thánh Tông”

Sách đồng Khâm ban của vua Lê Thánh Tông hiện đang lưu giữ tại Đình Cầu Không, xã Bắc Lý, tỉnh Ninh Bình. Sách có 2 tờ, 4 trang, chất liệu đồng đỏ. Trải qua thời gian sách đã ngả màu rêu xám; kích thước bằng nhau, dài: 45cm, rộng: 18,5cm, dày: 0,5cm. Trên 4 trang của sách được khắc các dòng chữ Hán đẹp và sắc nét. Tổng cộng 528 chữ, trong đó có 526 chữ Hán và 2 chữ Nôm. Sách đồng Khâm ban của vua Lê Thánh Tông là hiện vật gốc, độc bản, hiện trạng còn nguyên vẹn. Ở trang 2 và 3 khắc bài chính văn “Cầu Không từ ký" (bài ký Cầu Không). Tên của bài ký gắn liền với tên địa danh Cầu Không. Niên đại sách được đúc, khắc và hoàn thành vào ngày 6 tháng 3, năm thứ ba niên hiệu Hồng Đức (1472). Đây là cuốn sách đồng cổ nhất trong số các cuốn sách đồng đã được phát hiện trên cả nước. Sách đồng Khâm ban của vua Lê Thánh Tông là hiện vật có hình thức độc đáo bởi sách không sử dụng các nguyên liệu phổ biến, thông dụng như giấy, vải… để viết mà lấy kim loại quý làm “giấy” viết sách. Nội dung cuốn sách gồm bốn phần: Phần thứ nhất được xem như là lời chiếu của vua. Phần này, vừa thể hiện sự nhún nhường, vừa vạch rõ mưu đồ hiếu chiến của quân Chiêm Thành, dẫn đến sự trừng phạt là tất yếu. Phần thứ hai ghi ngày, tháng và năm vua Lê Thánh Tông thân chinh đi đánh giặc Chiêm Thành. Phần này như một bản thần tích thu gọn: Có vị Dực vận linh thần xin được theo vua để ngầm giúp đỡ. Từ đó đã vượt qua mọi sự khó khăn, đánh thắng quân giặc. Phần thứ ba ghi lại quá trình dựng Cầu Không, trùng tu ngôi đền trên cầu vào năm 1471 và khẳng định với công lao to lớn của thần thì sẽ được tế thờ mãi mãi. Phần thứ tư ghi lại các điều lệ. Phần này có 3 điều. Tuy là bài ký ghi việc dựng Cầu Không và trùng tu ngôi đền trên cầu vào năm 1471 đời Lê Thánh Tông, nhưng ghi chép ở đây là có giá trị sử liệu, rất đáng quí, sách viết: “Vào ngày 6 tháng 11 năm Canh Dần (1470), trẫm thân xuất đại quân tiễu trừ Chiêm Thành. Đến ngày 8, thuyền rồng của trẫm mới dừng lại ở cửa Long Xuyên thuộc địa đầu huyện Nam Xang.” Từ nguồn tư liệu này, chúng ta biết được cụ thể hơn về ngày tháng và địa điểm dừng chân của vua Lê Thánh Tông trên đường đi đánh giặc Chiêm Thành. Đây còn là một bản thần tích chung cho 3 thôn của 3 xã khác nhau: thôn Quan Đoài xã Văn Xá, thôn Cửa Ngòi xã Tế Xuyên, thôn Kiều Không xã An Triền thờ vị Dực vận linh thần có công hạng nhất giúp vua Lê Thánh Tông đánh giặc Chiêm Thành thắng lợi. Kim sách chứa đựng một nguồn sử liệu vô cùng quý giá, cung cấp thêm tư liệu về sự kiện vua Lê Thánh Tông đích thân cầm quân chinh phạt Chiêm Thành, mở mang bờ cõi về phía Nam. Cũng như những lần trừng phạt Champa từ thời Tiền Lê (do Hoàng đế Lê Hoàn trực tiếp chỉ huy), sau đó là thời Lý (nhiều lần đích thân vua Lý và Thái úy Lý Thường Kiệt chỉ huy đều bằng đường biển), vua Lê Thánh Tông cũng chỉ huy đại quân đi bằng đường biển vào đánh Chiêm Thành. Điều đó cho ta thấy người Việt có truyền thống thủy chiến, hải quân mạnh. Cuốn sách còn cung cấp nhiều chi tiết về một cây cầu bắc qua sông Long Xuyên, gọi là Cầu Không, làm bằng gỗ, kiểu “Thượng gia hạ kiều” độc đáo. Trên cầu có đền thờ rất linh thiêng, đã từng tồn tại ở thế kỷ XV. Qua mô tả trên, ta có thể liên hệ đến Chùa Cầu (Nhật Bản) ở Hội An - xây chùa trên cầu. Hiện nay tên địa danh Cầu Không vẫn còn. So sánh những dòng miêu tả trong sách đồng và tư liệu ảnh cây Cầu Không chụp năm 1936 thì hoàn toàn trùng khớp nhau về kiểu dáng kiến trúc. Sách đồng Khâm ban của vua Lê Thánh Tông là hiện vật gốc, độc bản, là sách đồng cổ, quý hiếm, duy nhất có niên đại thời Lê Sơ cung cấp nhiều giá trị tư liệu để nghiên cứu về lịch sử, chữ viết, địa danh hành chính, kỹ thuật đúc, khắc đồng, tín ngưỡng dân gian… góp phần vào việc khẳng định sự phát triển của xã hội đương thời. Với những giá trị đặc biệt quý hiếm và độc đáo đó, Sách đồng Khâm ban của vua Lê Thánh Tông được Thủ tướng Chính phủ công nhận là Bảo vật quốc gia tại Quyết định số 236/QĐ-TTg, ngày 03 tháng 02 năm 2026. Tác giả: Lê Thị Khánh Ninh - Phó Trưởng phòng Kiểm kê - Bảo quản

Bảo vật quốc gia “Bia đá niên hiệu Thiên Phù Duệ Vũ 3 (1122) tại chùa Nghĩa Xá (Viên Quang tự), xã Xuân Trường, tỉnh Ninh Bình

Theo nội dung văn bia “Viên Quang tự bi” khắc năm Thành Thái 1 (1889) hiện còn tại chùa Nghĩa Xá (Viên Quang tự), ngôi chùa ban đầu được xây dựng bên bờ Nam một nhánh sông Hồng, thuộc hương Giao Thủy, lộ Hải Thanh thời Lý, với quy mô lớn gồm 36 tòa, hàng trăm gian, tên gọi ban đầu là chùa Diên Phúc. Năm Chính Long Bảo Ứng thứ 5 (1167), vua Lý Anh Tông xuống chiếu trùng tu lần thứ ba, đổi tên hương thành Hộ Xá, chùa đổi hiệu là Viên Quang, mang nghĩa “viên mãn quang đại”. Đến thời Hậu Lê, chùa được di chuyển về xứ Bát Dương (xã Vũ Tiên, tỉnh Hưng Yên). Năm Tự Đức thứ 19 (1866), do biến động dòng chảy sông Hồng gây sạt lở, chùa được dời về đất trại làng Hộ Xá. Thời Nguyễn, Hộ Xá đổi tên thành Nghĩa Xá, nay thuộc xã Xuân Trường, tỉnh Ninh Bình. Công trình chùa hiện nay được dựng lại từ năm 1866, hoàn thành vào tháng 5 năm Tự Đức thứ 20 (1867), tiếp tục trùng tu vào các năm Đồng Khánh (1887) và Thành Thái (1889). Năm 1991, chùa Nghĩa Xá (Viên Quang tự) được xếp hạng Di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia. Tại chùa hiện còn lưu giữ nhiều di vật, cổ vật có giá trị như tượng pháp, sắc phong, kiệu thờ, hoành phi, câu đối…, tiêu biểu nhất là bia đá niên hiệu Thiên Phù Duệ Vũ 3 (1122). Bia hình chữ nhật, cao 154cm; rộng chân 94cm, rộng đỉnh 92cm; dày 9,5cm; chế tác từ một khối đá xanh trắng mịn, nguồn gốc đá núi Nhồi (Thanh Hóa). Trán bia mặt trước chạm nổi bốn chữ Hán “阿彌陀佛” (A Di Đà Phật) với nét khắc sâu, rõ. Chính diện trang trí rồng cuộn vờn ngọc; diềm trán và diềm thân chạm nổi hình rồng, thân thon, chân bốn móng, bao quanh là mây tản; phía dưới là hoa văn sóng nước. Mặt sau trán bia đã bị đục một số chỗ. Bia đá chùa Nghĩa Xá là sản phẩm nguyên gốc, được tạo tác năm Thiên Phù Duệ Vũ 3 (1122) và được khắc lại vào cuối thời Hậu Lê, đầu thời Nguyễn theo nội dung văn bia thời Lý; đồng thời bổ sung các thông tin tiến cúng ruộng đất của Hoàng Thái hậu, Công chúa từ thời Lý - Trần đến Lê trung hưng (thế kỷ XVI).Việc khắc lại vẫn giữ được nội dung văn tự như trước, đảm bảo niên đại khắc lại đã ít nhất hơn 200 năm, đảm bảo là bản sao duy nhất hiện còn được khắc trên chính thân của cổ vật cũ, nên đáp ứng tiêu chuẩn di sản tư liệu và cổ vật của UNESCO và Việt Nam. Bia đá chùa Nghĩa Xá (Viên Quang tự) là một tác phẩm nghệ thuật đặc sắc tiêu biểu cho phong cách mỹ thuật Phật giáo thời Lý thế kỷ XII và giai đoạn thời Lê trung hưng thế kỷ XVI. Về hình thức, bia đá được chế tác công phu, tinh tế, cân đối, đỉnh vòm mềm mại, đường nét tạc khắc thanh thoát. Hoa văn trang trí trên bia mang phong cách đặc trưng thời Lý với hoa văn sóng nước, mây tản... tương tự trên các hiện vật đá còn lưu giữ tại các di tích thời Lý thế kỷ XII tại tỉnh Ninh Bình. Bia đá chùa Nghĩa Xá (Viên Quang tự) là hiện vật có giá trị đặc biệt quý hiếm, tiêu biểu về lịch sử, văn hóa, khoa học liên quan đến Phật giáo thời Lý và sự nghiệp hoằng dương Phật pháp của Đại pháp thiền sư Giác Hải. Nội dung văn bia cho biết, chùa Nghĩa Xá (Viên Quang tự) thời Lý do vua Lý Thánh Tông (1054-1072) sáng lập, thiền sư Không Lộ (1016-1094) người hương Hải Thanh trụ trì, sau truyền lại cho đệ tử là thiền sư Giác Hải (1024 - 1138). Sau đó, chùa được vua Lý Thần Tông (1127-1137), vua Lý Anh Tông (1137-1175) ngự lãm và cho tu sửa. Chùa Nghĩa Xá (Viên Quang tự) vào thời Lý đã có gác chuông và có quả đại hồng chung, cùng có tháp Phật và nhà Tổ. Điện thờ chùa có tòa Di Đà giáo chủ, tức Phật A Di Đà là vị Phật được tôn thờ nhiều nhất trong Phật giáo Đại thừa. Tên của Ngài nghĩa là Vô Lượng Thọ, nghĩa là thọ mệnh vô lượng và Vô Lượng Quang, ánh sáng vô lượng. Ngài là giáo chủ cõi cực lạc an vui ở Tây phương, vì thế mà tên bia sau này chỉ khắc lại 4 chữ Hán: A Di Đà Phật. Mặt sau văn bia cho biết, chùa Nghĩa Xá (Viên Quang tự) được vua Lý lệnh cấp số ruộng 300 mẫu cho chùa, sau lại được Hoàng Thái hậu triều Lý cúng 72 mẫu và 12 chiếc ao, đầm. Thời Trần, chùa vẫn được duy trì và hoàng tộc nhà Trần tiếp tục cung tiến ruộng làm của Tam bảo, trong đó có Trưởng công chúa Thái Đường (con gái vua Trần Thái Tông). Đến năm 1598, chùa được tu tạo quy mô, với ba tòa Long khám, tức ba tòa thờ Tam Thánh như hiện nay. Thiền sư Giác Hải cùng với thiền sư Không Lộ là những bậc cao tăng, quốc sư có công lớn hưng thịnh Phật giáo thời Lý, có công chữa bệnh cho vua Lý Nhân Tông. Niên hiệu Thiên Chương Bảo Tự (1133-1138), vua Lý Thần Tông mắc bệnh hóa hổ, thiền sư lên kinh đô chữa khỏi bệnh cho vua, được triều đình ban ruộng các xã phụ cận mà hiện nay còn ghi chép ở mặt sau bia đá này. Tên tuổi thiền sư Giác Hải cũng được sách “Lĩnh Nam chích quái” và “Thiền uyển tập anh” ghi chép, điều đó là những minh chứng về vai trò lịch sử và ảnh hưởng sâu rộng của thiền sư Giác Hải đối với Phật giáo thời Lý thế kỷ XII. Người soạn nội dung văn bia tên là Dĩnh Đạt, hiện chưa rõ thân thế, sự nghiệp. Trong sách Kiến văn tiểu lục, Lê Quý Đôn đánh giá cao và liệt kê bài văn bia vào một trong số 16 “kim thạch di văn” (văn để lại trên đồng và đá) quý giá thời Lý - Trần mà ông quan sát được. Cũng theo Lê Quý Đôn, chùa Nghĩa Xá vốn có quả chuông và bài minh chuông do Dĩnh Đạt soạn, nhưng bị mất, chỉ còn duy nhất văn bia này. Vì thế bài văn bia này càng có ý nghĩa với ngôi quốc tự Viên Quang thời Lý, góp phần làm phong phú hơn nguồn sử liệu, văn liệu về thể ký nói riêng, văn học viết nói chung trong lịch sử văn học Việt Nam. Với các giá trị đặc biệt tiêu biểu về lịch sử, văn hóa, khoa học, mỹ thuật và tư liệu Phật giáo thời Lý, bia đá chùa Nghĩa Xá (Viên Quang tự) niên hiệu Thiên Phù Duệ Vũ 3 (1122), xã Xuân Trường, tỉnh Ninh Bình được Thủ tướng Chính phủ công nhận là Bảo vật Quốc gia theo Quyết định số 236/QĐ-TTg ngày 03/02/2026. Tác giả: Nguyễn Xuân Cao - Trưởng phòng Nghiên cứu Lịch sử - Văn hoá

Bia chùa Giàu - Bảo vật quốc gia thời Trần trên đất Ninh Bình

Bia chùa Giàu (tên chữ Ngô gia thị bi) là một hiện vật đá cổ có giá trị đặc biệt về lịch sử, mỹ thuật và văn hóa, hiện được lưu giữ tại chùa Giàu (ngôi chùa cổ có tên chữ Khánh Long tự), thôn 2, xã Đinh Xá, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam (nay là phường Liêm Tuyền, tỉnh Ninh Bình). Tương truyền, chùa được mở mang xây dựng với quy mô rộng lớn vào thời Trần, trải qua các thời kỳ lịch sử, chùa được tu bổ, tôn tạo khang trang.Tấm bia đặt trong chùa,nên gọi là bia chùa Giàu.Bia được chế tác bằng đá xanh nguyên khối, kích thước cao 1,0 m, rộng 0,59 m, dày 0,12 m, trọng lượng khoảng 200 kg. Đây là tấm bia đá có niên đại thời Trần, được dựng năm Bính Ngọ, niên hiệu Đại Trị thứ 9 (1366) đời vua Trần Dụ Tông. Với nhiều giá trị độc đáovề tạo hình và nội dung văn bia, bia chùa Giàu được đánh giá là hiện vật tiêu biểu phản ánh đời sống tôn giáo, xã hội và nghệ thuật điêu khắc thời Trần. Giá trị về mặt điêu khắc Bia đá chùa Giàu được chạm khắc độc đáo ở cả 2 mặt: + Nghệ thuật chạm khắc ởmặt trước Trán bia hình vòng cung được phân chia làm 03 ô: Ô chính giữa tạo thành hình vuông, chạm nổi bốn chữ Hán大 偪通明, phiên âm: “Đại Phúc Thông Minh” (có nghĩa là: tôn quý có phúc lớn, sáng sủa, minh bạch), cũng có ý kiến khác phiên âm là “Lục Tổ Thông Minh”. Chữ khắc theo lối hành thảo thành hai hàng dọc, mỗi hàng hai chữ. Theo các nhà nghiên cứu, kiểu bố cục này phổ biến trên nhiều bia thời Lý và thời Trần. Ở hai ô bên gần hình tam giác, chạm khắc 2 hình rồng đối xứng, trong tư thế đầu rồng ngẩng cao, chầu vào ô chính giữa. Hình rồng ở tư thế uốn 11 khúc mềm mại, thân tròn lẳn, mập mạp, thu nhỏ dần về phía đuôi; đầu rồng có bờm mào dài, mũi cao, sừng chạc, miệng há ngậm ngọc, răng nanh sắc nhọn, mang đặc trưng phong cách rồng thời Trần. Chân rồng chạm khắc 5 móng sắc nhọn, chân trước đỡ lấy cằm nâng viên ngọc báu. Diềm bia chạm khắc mô - típ hoa dây uốn hình sin, chạy liên tiếptừ chân bia hướng lên 2 bên thành rồi lồng ngọn vào nhau ở đỉnh bia, trong mỗi khúc uốn lại trổ ra một bông hoa với nhiều tay xoắn móc toả về hai bên. Chân bia chạm khắc bẩy hình lá đề, xen kẽ phía trên là 6 hạt tròn nhọn đầu, bên trong mỗi lá đề có khắc hình sừng tê. Đầu nhọn lá đề hướng lên trên. Thân bia, chạm khắc nổi theo dạng bức phù điêu chân dung một vị Hoàng đế, đang ngồi trên ngai rồng, tư thế ngồi chính diện, có vòng hào quang trên đầu, tay ngai chạm đầu rồng. Ngai rồng đặt trên tòa đài sen, các cánh sen uốn cong đối xứng. Chân dung Hoàng đế được chạm khắc trên mặt bia thể hiện địa vị quyền quý rất cao của Đức Ngài trong xã hội: Trên đầu Đức Ngài đội mũ “bình thiên”, chính giữa mũ nổi hình tròn biểu trưng cho mặt trời, xung quanh hai bên là các chấm tròn nhỏ nối nhau bằng các đường thẳng biểu trưng các vì tinh tú. Khuôn mặt chân dung của Đức Ngài chạm khắc rất đầy đặn theo các nét quý tướng: mắt xếch, lông mày rậm, mũi thẳng nhô cao, có ria mép, dáng vẻ quắc thước, hai tai to chảy dài xuống, hai chân buông thẳng, mũi bàn chân quay về hai phía. Cổ Ngài đeo vòng có trang trí các chấm tròn, cứ một chấm tròn lại đến một dây tua có các chấm tròn, ngoài cùng của dây chấm tròn là hình kiểu “búp đa” hay “lá đề”. Trang phục của Hoàng đế thể hiện hai lớp áo: Lớp ngoài là áo khoác dài, tay áo thụng, rộng, dài che kín toàn bộ xuống đến chân, có các dải trang trí mềm mại. Chính giữa có ba dải chạy thẳng xuống tới chân, trong đó dải ở giữa có chữ “Vương” trong khung hình tròn, phía dưới là chữ “Á”, đuôi của các dải này vát hình chữ V, cũng có các tua dây với một chấm tròn và một chấm hình “búp đa”. Hai bên vạt áo có 2 hình chim đối xứng. Lớp áo bên trong là loại áo bó thân với kiểu cổ vát hình chữ V. Hai tay Hoàng đế cầm “hốt” chắp trước ngực. -Nghệ thuật chạm khắc ở mặt sau Khắc chữ Hán thể hiện nội dung tấm bia, nét chữ tự do, không đều, nhiều chữ đã bị mờ không đọc được. Phía ngoài cùng bên phải khắc tiêu đề “Ngô gia thị bi”(Văn bia họ Ngô). Phần chính văn của bia gồm 7 dòng, mỗi dòng 19 chữ, nội dung ghi về việc có một nhà sư hiệu “Viên tích đại sa môn” đã xin Phật tam thế cho phép mình từ am Đại Long chuyển về tiểu am thôn Mai và nhà sư đã mất tại đó vào năm Hưng Long thứ 13 (năm 1305) đời vua Trần Nhân Tông. Nhà sư họ Ngô, hiệu “Ngộ Không cư sĩ” thuộc bản am đã quyết định an táng nhà sư “Viên tích đại sa môn” và dựng nhà tại đây. Phần còn lại ghi chép họ và tên người cúng tiến ruộng ao cho chùa. Tấm bia là hiện vật gốc độc bản: Bia đá chùa Giàu là hiện vật gốc, độc bản, hiện trạng còn tương đối nguyên vẹn. Tấm bia được dựng tại chùa và gắn với lịch sử ngôi chùa. Bia được tạo hình bằng một tấm đá xanh, trang trí chạm khắc nổi và bài minh văn không trùng với bất kỳ tấm bia nào cùng thời. Là tấm bia cổ thời Trần duy nhất được phát hiện trên đất Hà Nam được khắc vào năm Bính Ngọ, niên hiệu Đại Trị 9 (năm 1366) đời vua Trần Dụ Tông. Tấm bia là hiện vật có hình thức độc đáo: Trên tổng thể tư liệu bia ký thời Trần, đây là tấm bia duy nhất được tạo tác mà trên đó chạm khắc nổi chân dung một vị Hoàng đế thời Trần, là một tác phẩm mỹ thuật độc đáo quý hiếm thời Trần ở Hà Nam nói riêng cũng như cả nước nói chung. Một số nhà nghiên cứu khảo cổ, mỹ thuật, căn cứ trên hình tượng điêu khắc trên bia như: ngai, mũ, trang phục...có đưa ra giả thiết đó là hình ảnh chân dung của Hoàng đế Trần Nhân Tông.Hoàng đế Trần Nhân Tông là Tổ của Thiền phái Trúc Lâm, tức Vua đã hoá Phật, hay là Phật tái thế, do đó bức chân dung chùa Giàu có tư thế và trang phục vua, có đài sen và hào quang của Phật là hoàn toàn phù hợp với chân dung vua Trần Nhân Tông. Đây là hình ảnh vua Việt Nam sớm nhất hiện nay được biết, là mẫu cho các tượng vua và Ngọc Hoàng được tạo dựng vào cuối thế kỷ XVI và đầu thế kỷ XVII. Bia chùa Giàu là hiện vật có giá trị đặc biệt về lịch sử, văn hóa, khoa học: Tấm bia chùa Giàu cung cấp nhiều nguồn tư liệu quý hiếm trên các phương diện: ký tự học, mỹ thuật học, địa lý học lịch sử. Tấm bia còn giúp cho việc tìm hiểu về lịch sử, tôn giáo, chữ viết thời Trần, đặc biệt là sự xuất hiện của chữ Nôm khắc trong văn bia. Ngoài ra, nội dung văn bia còn cho biết, chế độ sở hữu ruộng đất, đơn vị đo đường, vai trò của Đạo giáo và Phật giáo thời Trần, nguồn gốc các dòng họ, chức vụ quản lý cấp cơ sở (xã), phân bố dân cư giữa người Kinh và người thiểu số vào thời Trần ở nơi đây ... Về địa danh hành chính: Đây là tấm bia đầu tiên nhắc đến đơn vị hành chính “Lợi Nhân lộ”mà các tư liệu hiện biết đến nay không nhắc tớitrong hệ thống tổ chức hành chính nhà Trần. Lộ là đơn vị hành chính có thời Lý, sau khi giành được chính quyền, nhà Trần đã phân chia lại Đại Việt thành 12 lộ thay vì 24 lộ như ở thời Lý(5) tuy nhiên hoàn toàn không có tên lộ Lợi Nhân. Về chữ Nôm: Không kể những chữ mờ, mất văn bia còn ba chữ Nôm chỉ số 2, số 4 chữ Hán thay cho số 3. Hai chữ “Nguyệt” viết thiếu nét, 5 chữ “Bính” thay cho hướng Nam (dụng theo ngũ hành, thập can), điều này cho thấy có thể chữ “Nguyệt” và “ Nam” là không, húy của hoàng tộc nhà Trần thời kỳ đó. Về tôn giáo: Đề tài trang trí bia chùa Giàu thể hiện sự dung hòa, hòa hợp tôn giáo thời Trần, là minh chứng rõ nhất cho tư tưởng “Tam giáo đồng nguyên”. Toàn bộ nội dung văn bia nói đến việc xây dựng chùa, tuy nhiên, phần mỹ thuật được chạm khắc ở chân bia thể hiện tư tưởng của Đạo giáo, đó là hình ảnh các lá đề được chạm khắc trong đó có lồng vật biểu trưng của đạo giáo, đó là hình tượng các cặp sừng tê. Với những giá trị tiêu biểu và độc đáo đó, bia chùa Giàu đã được Thủ tướng Chính phủ quyết định công nhận là Bảo vật quốc giatại số 41/QĐ-TTg ngày 30/01/2023, trở thành di sản đặc biệt có ý nghĩa quan trọng trong việc nghiên cứu, bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa trên địa bàn tỉnh Ninh Bình cũng như trong kho tàng di sản văn hóa của Việt Nam.

Giá trị độc đáo của bảo vật quốc gia “Bàn thờ Phật bằng đá chùa Thượng Nương”

Bàn thờ Phật chùa Thượng Nương được lưu giữ tại chùa Thượng Nương, thôn Tam Tứ, xã Liêm Hà, tỉnh Ninh Bình. Bàn thờ có dáng hình khối chữ nhật được ghép từ các khối đá nhỏ, kích thước: dài: 2,96 m, rộng 1.04m, cao 1,13m, cấu trúc gồm ba phần chính là mặt, thân và chân bệ. Phần mặt phía trên tạo phẳng, chia làm hai phần: Thành bệ ở tầng trên chạm khắc hoa văn hoa cúc dây và tạc chuỗi ngọc châu (gồm 36 viên); Thành bệ ở tầng dưới, 4 góc phình ra phía trên, thót lại phía dưới và chạm nổi một dải cánh sen ngửa xếp thành hàng đều nhau. Đặc biệt, chính giữa dải cách sen này chạm nguyên một cách sen to nở tròn đầy, bên trong tạo nhiều lớp cánh uốn hình móc tròn chụm đầu khít vào nhau. Mặt bàn thời là nơi đặt tòa Cửu Long, bát hương đá khắc nổi 3 chữ Hán “Thượng Nương tự’ và đồ thờ tự. Phần thân phía trên thu nhỏ. Mặt trước tạo 3 ô hình chữ nhật: Ô chính giữa thân bệ trang trí đề tài hoa cúc - ba bông cúc lớn ở ba tư thế. Bông chính giữa rộ nở được diễn tả theo chiều nhìn hơi nghiêng. Bông bên trái chớm nở với các cánh xếp tròn hoặc xoáy tròn được diễn tả theo chiều thẳng chính diện. Bông bên phải nghiêng hẳn như đang hướng về phía mặt trời. Hai ô bên cạnh trang trí đôi rồng trong tư thế cuộn mình. Toàn bộ thân rồng uốn lượn mềm mại thành 13 khúc. Đầu rồng ngước lên, miệng há rộng, nhả một viên ngọc tròn với các quầng sáng. Rồng có bộ mào dài, sừng hai nhánh, tai to, mang 6 xoáy, chân bốn móng, thân có vẩy, vây lưng to thưa. Xung quanh thân rồng trang trí các quầng mây cuộn thể hiện sự tỉ mỉ, trau truốt trong từng đường nét chạm khắc. Mặt sau của thân bệ cũng được chia ba ô. Ô chính giữa trang trí hình rồng, toàn thân uốn 9 khúc, trong tư thế như đang đạp mây bay về phía trước. Hai ô bên của thân bệ trang trí hoa văn lá đề. Ô bên trái: giữa trung tâm của lá đề trang trí đồ án hươu trong tư thế nằm, mình thon, đầu ngoảnh quay về phía sau, miệng ngậm lá cây. Ô bên phải bố cục tương tự như ô bên trái: giữa trung tâm lá đề trang trí đồ án hình con hươu ở tư thế đứng, chân nhún nhẩy vui đùa trên các cụm mây tản. Bao quanh hươu vây kín những cụm vân mây dạng xoắn rất sinh động. Hình ảnh hươu xuất hiện trên bệ đá thời Trần là một hiện tượng hiếm, độc đáo. Mặt bên trái của thân bệ (nhìn từ ngoài vào) chạm khắc hình con sư tử đang tung mình vờn cầu. Bên cạnh đồ án hình sư sử có khắc minh văn gồm 43 chữ Hán, dịch nghĩa: “Ở ngõ Thượng Xảo, làng Sơn Khê, Thiên Kiện có 1 người đàn bà tên là Đinh Thị Muộn, tâm niệm rằng có 1 thửa ruộng tại động Anh Triệu, đã dùng 5 sào ruộng thí cho Văn Tuý Thủ (tay hay chữ) để thay thế tiền thù lao cho thợ tạc bệ đá”. Mặt bên phải của thân bệ có khắc niên đại, dịch nghĩa: “Tạo tác tháng 6 năm Giáp Thìn, niên hiệu Đại Trị năm thứ 7 - 1364”. Phần chân bệ hơi choãi ra, tạo thế thế đỡ vững chãi cho bệ thờ và được chia làm hai tầng trang trí. Tầng trên đế bệ được trang trí đa dạng các mô típ hơn tầng dưới: Mặt trước và hai mặt bên chạm nổi băng hoa văn hình chữ vạn gấp khúc trong hình thoi, xen kẽ là những bông hoa mai. Mặt sau được chạm khắc một băng hoa văn hoa cúc dây thanh mảnh chạy suốt chiều ngang của bệ đá. Tầng dưới, xung quanh chân bệ trang trí một dải cánh sen, đầu các cánh bên dưới đều cuộn lên rồi xoắn lại theo hình sóng nước. Bàn thờ Phật bằng đá chùa Thượng Nương là hiện vật gốc, độc bản, tiêu biểu của nghệ thuật điêu khắc Phật giáo thời Trần, mang nhiều giá trị đặc biệt trên các phương diện lịch sử, mỹ thuật và tôn giáo tín ngưỡng. Trước hết, bàn thờ Phật có giá trị lịch sử - niên đại tuyệt đối rõ ràng. Minh văn khắc trực tiếp trên thân bệ ghi rõ thời điểm tạo tác vào tháng 6 năm Giáp Thìn (1364) đời vua Trần Dụ Tông, giúp xác định chính xác niên đại, cung cấp tư liệu tin cậy cho việc nghiên cứu lịch sử mỹ thuật và Phật giáo thế kỷ XIV. Đây là bàn thờ Phật thời Trần có niên đại sớm nhất được phát hiện tại tỉnh Ninh Bình, Bàn thờ Phật có giá trị mỹ thuật đặc sắc và độc đáo. Bàn thờ được tạo hình chuẩn mực với cấu trúc ba phần (mặt - thân - chân) chặt chẽ, cân đối, thể hiện trình độ chế tác đá điêu luyện. Hệ thống hoa văn phong phú gồm rồng, lá đề, hoa cúc, hoa sen, sư tử, hươu, chữ vạn… được chạm khắc tinh xảo, bố cục hài hòa. Đặc biệt, nhiều mô típ lần đầu xuất hiện trên bệ thờ thời Trần như chuỗi ngọc minh châu nổi, chữ vạn gấp khúc trong hình thoi xen hoa mai, cúc dây dạng “tay mướp”, hình hươu trong lá đề… tạo nên giá trị nghệ thuật riêng biệt, hiếm thấy. Đây là tác phẩm thể hiện giá trị tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật thời Trần và sự kế thừa - sáng tạo. Hình tượng rồng vừa mang dáng khỏe khoắn của nghệ thuật Trần, vừa phảng phất nét mềm mại của rồng thời Lý, cho thấy sự chuyển tiếp phong cách. Bố cục đôi rồng chầu ba bông cúc thay vì chầu mặt nguyệt là một sáng tạo độc đáo, phản ánh tư duy thẩm mỹ riêng của nghệ nhân đương thời. Bàn thờ Phật còn mang giá trị tôn giáo - tín ngưỡng sâu sắc. Tổng thể bệ thờ được cách điệu như một đài sen - biểu tượng thiêng liêng của Phật giáo. Nội dung minh văn cùng hệ thống đồ án trang trí phản ánh rõ tư tưởng Phật giáo thời Trần và cho thấy vai trò của cộng đồng cư dân trong việc công đức, tạo dựng cơ sở thờ tự. Bên cạnh những giá trị lịch sử, văn hóa, thẩm mỹ bàn thờ Phật còn có giá trị tư liệu khoa học quan trọng. Minh văn ghi chép về địa danh, nhân vật công đức (Đinh Thị Muộn) ruộng hiến tặng và việc trả công thợ là nguồn sử liệu gốc quý hiếm để nghiên cứu lịch sử xã hội, kinh tế, hành chính và sinh hoạt tín ngưỡng địa phương thế kỷ XIV. Như vậy, với tính độc bản, nguyên vẹn, quý hiếm và tiêu biểu, bàn thờ Phật chùa Thượng Nương không chỉ phản ánh đỉnh cao nghệ thuật điêu khắc đá thời Trần mà còn góp phần khẳng định sự phát triển rực rỡ của văn hóa Đại Việt thế kỷ XIV. Với những giá trị đặc biệt quý hiếm đó, Bàn thờ Phật chùa Thượng Nương đã được Thủ tướng Chính phủ công nhận là Bảo vật quốc gia tại quyết định số 236/QĐ-TTg ngày 03 tháng 02 năm 2026.

Bảo vật Quốc gia: Long sàng trước Bái đường đền thờ Vua Đinh Tiên Hoàng: Giá trị lịch sử và nghệ thuật đặc sắc.

Khu di tích Quốc gia đặc biệt Cố đô Hoa Lư (tỉnh Ninh Bình) là kinh đô đầu tiên của Nhà nước phong kiến tập quyền Việt Nam vào thế kỷ X, gắn liền với sự nghiệp dựng nước và giữ nước của các triều đại Đinh, Tiền Lê và giai đoạn đầu triều đại nhà Lý. Trong hệ thống các di tích tiêu biểu tại đây, đền thờ Vua Đinh Tiên Hoàng giữ vị trí đặc biệt quan trọng, không chỉ bởi giá trị lịch sử, văn hóa mà nơi đây còn lưu giữ nhiều hiện vật quý hiếm phản ánh tư tưởng chính trị, tín ngưỡng và trình độ nghệ thuật của dân tộc qua các thời kỳ lịch sử. Tiêu biểu trong số đó là Long sàng trước bái đường - hiện vật đã được Thủ tướng Chính phủ công nhận là Bảo vật quốc tại Quyết định số 2089/QĐ-TTg ngày 25 tháng 12 năm 2017. Long sàng trước Bái đường là chiếc long sàng thứ hai trong khuôn viên đền thờ Vua Đinh Tiên Hoàng, có niên đại thế kỷ XVII. Hiện vật được đặt ở vị trí trang trọng trên sân chầu, sát thềm tòa Bái đường – không gian trung tâm diễn ra các nghi lễ truyền thống quan trọng trong đời sống tín ngưỡng của cộng đồng. Vị trí này thể hiện rõ tư tưởng tôn quân, trọng lễ đồng thời bày tỏ sự tôn kính đặc biệt đối với Vua Đinh Tiên Hoàng – người có công dẹp loạn 12 sứ quân, thống nhất đất nước và lập nên Nhà nước Đại Cồ Việt vào năm 968. Long sàng được chế tác từ đá xanh nguyên khối, là một khối đá hình hộp chữ nhật nặng khoảng 2 tấn, dày 18cm, dài 188cm, rộng 138cm, kết cấu vững chắc, mặt long sàng được nâng đỡ bởi hệ thống chân đế bằng đá tạo thế đứng vững chãi, phù hợp với chức năng của một đồ tế khí gắn với vương quyền. Từ xưa đến nay, rồng luôn là hình ảnh biểu tượng cho sức mạnh quyền uy, giàu sang phú quý, bởi thế, trên chính giữa bề mặt Long sàng được chạm khắc hình rồng tượng trưng cho quyền lực nhà vua, người đứng đầu Quốc gia Đại Việt. Rồng được thể hiện trong tư thế khoanh tròn, thân uốn lượn mạnh mẽ, đầu hướng về phía Đông, nhìn lên núi Mã Yên, nơi đặt lăng mộ Vua Đinh Tiên Hoàng. Điểm đặc biệt, các chi rồng được nhân hóa thành bàn tay con người, tạo nên hình tượng độc đáo, hiếm gặp trong nghệ thuật tạo hình truyền thống. Ở chi trước, một bàn tay vít sừng rồng, một bàn tay nắm chặt bờm rồng; ở chi sau, một chi vẫn mang móng vuốt chim ưng truyền thống, chi còn lại xòe ra như bàn tay sáu ngón đang nắm giữ thân rồng. Mình rồng vặn xoắn, bụng ngửa, cổ bị che phủ bởi râu và bờm, tạo nên hình tượng vừa lạ vừa uy nghi, hùng dũng. Bao quanh mặt long sàng là hệ thống đường diềm trang trí phong phú, được chạm khắc công phu, không tuân theo quy tắc đối xứng chặt chẽ thường thấy. Diềm phía trước là hình lưỡng long chầu nhật với đao mác, mây vần tạo cảm giác uy phong, linh thiêng. Trong khi đó, diềm phía sau lại xuất hiện nhiều hình ảnh quen thuộc của đời sống nông nghiệp như tôm, cá, chim, chồn, chuột, trâu. Các con vật đều toát lên nét vui tươi trong một tư thế rất thoải mái. Sự hiện diện của những con vật dân dã trên một đồ tế khí gắn liền với vương quyền tối thượng được các nhà nghiên cứu đánh giá là hiện tượng độc đáo, hiếm gặp và gần như độc nhất vô nhị trong nghệ thuật tạo hình Việt Nam. Điều này phản ánh quan niệm sâu sắc về sự gắn bó mật thiết giữa nhà vua và muôn dân, giữa cái cao quý và cái bình dị trong tư duy văn hóa truyền thống. Về giá trị nghệ thuật, Long sàng trước Bái đường là tác phẩm điêu khắc đá tiêu biểu, thể hiện trình độ thẩm mỹ và kỹ thuật chạm khắc tinh xảo của nghệ nhân Việt Nam thế kỷ XVII. Bố cục chạm khắc chặt chẽ, cân đối; đường nét vừa khỏe khoắn, vừa mềm mại, thể hiện sự kết hợp hài hòa giữa tính uy nghi của mỹ thuật cung đình và tính phóng khoáng của nghệ thuật dân gian. Đặc biệt, chi tiết rồng có chi thể mang hình dáng bàn tay người là sáng tạo nghệ thuật độc đáo, phản ánh tư duy tạo hình giàu trí tưởng tượng và bản sắc riêng của nghệ thuật Việt Nam. Tổng thể trang trí không chỉ mang giá trị thẩm mỹ cao mà còn chứa đựng chiều sâu tư tưởng và ý nghĩa biểu tượng sâu sắc. Với giá trị đặc sắc về lịch sử, văn hóa và nghệ thuật, Long sàng trước Bái đường không chỉ là một hiện vật quý hiếm, mà còn là nguồn tư liệu quý phục vụ công tác nghiên cứu. Việc công nhận hiện vật là Bảo vật quốc gia góp phần khẳng định giá trị nổi bật của di sản, đồng thời tạo cơ sở cho công tác bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa gắn với phát triển du lịch bền vững tại di tích Quốc gia đặc biệt - Cố đô Hoa Lư.

15

Năm thành lập

872

Tư liệu trưng bày

7625

Lượt truy cập