CHÀO MỪNG ĐẾN VỚI CỔNG THÔNG TIN BẢO TÀNG NINH BÌNH!

Với tư cách là bảo tàng khảo cứu địa phương, hiện nay Bảo tàng Ninh Bình lưu giữ hơn 40.000 tài liệu hiện vật liên quan đến lịch sử, văn hóa của Ninh Bình nói riêng và cả nước nói chung. Trong đó, Bảo tàng lựa chọn trưng bày và giới thiệu đến khách tham quan hơn 1000 tài liệu, hình ảnh, hiện vật đặc sắc thể hiện nội dung theo từng chủ đề.

Chiếc xe đạp Peugeot - Kỷ vật một thời để nhớ

Giữa không gian tĩnh lặng lưu giữ hàng ngàn, hàng vạn hiện vật tại Bảo tàng tỉnh Ninh Bình nổi lên một hiện vật dường như đánh thức ký ức về một thời lịch sử khó quên – thời kỳ Bao cấp, đó là chiếc xe đạp Nam Hà, mã số kiểm kê: 4191/KL:659. Chiếc xe đạp nữ, màu đỏ, trên khung vẫn còn in rõ dòng chữ “Peugeoi” đã phai màu theo năm tháng. Hiện vật của bà Đỗ Thị Thúy – nguyên cán bộ kỹ thuật, kiêm Chủ tịch Công đoàn Xí nghiệp gạch Khả Phong, tỉnh Hà Nam hiến tặng Bảo tàng tỉnh Nam Định (nay là Bảo tàng tỉnh Ninh Bình) năm 2012. Chiếc xe được mua theo chế độ phân phối thời kỳ Bao cấp không chỉ là phương tiện đi lại mà còn là tài sản quý giá, gắn bó với cả một giai đoạn đời người. Trong ký ức của nhiều thế hệ, thời Bao cấp là quãng thời gian thiếu thốn nhưng đong đầy kỷ niệm. Khi ấy, một chiếc xe đạp không đơn thuần là vật dụng, mà là “gia tài” đáng mơ ước, thậm chí trở thành thước đo giá trị và niềm tự hào của mỗi gia đình. Điều đó được phản ánh sinh động qua câu vè dân gian quen thuộc: “Một yêu anh có Seiko Hai yêu anh có Pơ giô cá vàng Ba yêu nhà cửa đàng hoàng Bốn yêu hộ tịch rõ ràng thủ đô…” Trong thang bậc giá trị ấy, xe đạp Peugeot thường gọi thân thuộc là “Pơ giô” – chỉ đứng sau đồng hồ Seiko, cho thấy vị thế đặc biệt của nó trong đời sống xã hội lúc bấy giờ. Peugeot là thương hiệu của Pháp ra đời từ thế kỷ XIX. Sau gần một thế kỷ phát triển, những chiếc xe đạp Peugeot theo chân người Pháp đến Việt Nam, rồi nhanh chóng chiếm được cảm tình của người dân bởi độ bền, kiểu dáng thanh lịch và sự tiện dụng. Không chỉ là phương tiện đi lại, Peugeot còn trở thành biểu tượng của sự “có điều kiện” của nếp sống chỉn chu, nền nã nơi phố thị cũng như làng quê Việt Nam suốt thế kỷ XX. Trong thời kỳ Bao cấp, để sở hữu và sử dụng một chiếc xe đạp không hề đơn giản. Người dân phải trải qua nhiều thủ tục: từ làm đơn xin mua, nhận phiếu phân phối, đăng ký biển số, xin giấy phép lưu hành đến việc được cấp sổ để mua phụ tùng thay thế. Một chiếc xe vì thế không chỉ có giá trị vật chất – tương đương một chỉ vàng mà còn là kết tinh của sự chờ đợi, tích góp và trân trọng. Hành trình sở hữu một chiếc xe đạp thời Bao cấp còn là câu chuyện của sự chắt chiu, xoay xở và cả những quyết tâm rất đời thường của nhiều người lúc bấy giờ. Bà Trần Thị Hiền, 64 tuổi, nguyên cán bộ Sở Nông nghiệp, 135 phố Bắc Ninh, thành phố Nam Định (nay thuộc phường Nam Định, tỉnh Ninh Bình) nhớ lại: “Thời kỳ đó, trong gia đình có chiếc xe đạp là giá trị nhất. Tôi về cơ quan đã một thời gian dài, do điều kiện công việc, cơ quan phân phối cho một cái phiếu mua xe đạp giá cao, tức là không phải giá cung cấp. Khi đó giá chiếc xe chỉ có 256 đồng, nhưng tôi phải mua nó tới 520 đồng. Sau khi tôi xoay xở xong, có được cái giấy phép mua xe tại thành phố Nam Định, tôi lại phải đi xuống tận huyện Trực Ninh mới lấy được xe về. Khi đó lương của tôi chỉ có 36 đồng, nhưng vì công việc tôi phải vay mượn cố để mua chiếc xe đạp, nếu không lại mất cơ hội”. Những con số tưởng chừng như khô cứng ấy, chỉ có 36 đồng tiền lương, hơn 500 đồng tiền xe lại chính là thước đo rõ ràng nhất cho giá trị của chiếc Peugeot trong đời sống của một thời khó quên. Đó không chỉ là một phương tiện đi lại, mà còn là kết quả của sự tích góp, của những lần đắn đo và cả những quyết định mang tính “đánh đổi” để nắm lấy cơ hội. Chiếc xe đạp Peugeot không chỉ là một hiện vật mà còn là ký ức, là câu chuyện về một thời kỳ lịch sử - nơi những giá trị giản dị lại trở nên thiêng liêng và đáng nhớ hơn bao giờ hết. Chính vì quý giá nên những chiếc Peugeot luôn được chủ nhân nâng niu như một “tài sản biết nói”. Xe ít khi được sử dụng cho những việc thường nhật, mà chỉ dành cho những dịp quan trọng. Sau mỗi lần đi, xe lại được lau chùi cẩn thận, giữ gìn sáng bóng. Bởi vậy, hình ảnh một chiếc Peugeot sạch sẽ, bóng loáng giữa phố phường bụi bặm đã trở thành nét quen thuộc trong ký ức nhiều người. Và, được ngồi trên chiếc xe ấy dù chỉ là đi nhờ cũng đủ khiến người ta cảm thấy tự hào, hãnh diện. Khi cơ chế Bao cấp khép lại, nhường chỗ cho nền kinh tế thị trường, các loại xe đạp giá rẻ và đặc biệt là xe máy dần phổ biến, khiến những chiếc Peugeot từng một thời “vang bóng” lui vào dĩ vãng. Ngày nay, hiếm khi bắt gặp hình ảnh Peugeot trên đường phố, nhưng trong không gian trưng bày lưu giữ của Bảo tàng tỉnh Ninh Bình, chiếc xe vẫn lặng lẽ hiện diện như một nhân chứng sống động của một thời đã qua.

Câu chuyện về chiếc Ruột tượng

Chiến tranh đi qua không chỉ để lại dấu ấn trong lịch sử, mà còn in sâu trong ký ức con người bằng những câu chuyện rất đỗi riêng tư. Có những kỷ vật nhỏ bé, giản dị nhưng lại chứa đựng cả một phần đời và những tình cảm không thể gọi thành lời. Chiếc ruột tượng cũ của người lính năm xưa là một minh chứng như thế – nơi ký ức chiến tranh hòa quyện với một mối tình bền bỉ theo năm tháng. Đó là câu chuyện tình yêu của người lính Vũ Văn Thược và cô gái bên khung cửi. Chiếc ruột tượng bằng vải thô, màu cỏ úa, dài hơn hai mét, đã sờn theo năm tháng, từng là vật dụng quen thuộc của người lính trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Nhưng với ông Vũ Văn Thược, nó không chỉ là một chiếc túi đựng gạo. Đó là một kỷ vật mang theo cả một câu chuyện tình, lặng lẽ mà bền bỉ như chính thời cuộc ông đã đi qua. Năm 1952, chàng trai trẻ Vũ Văn Thược rời quê hương Mỹ Thuận (nay thuộc phường Mỹ Lộc, tỉnh Ninh Bình) lên đường nhập ngũ. Đơn vị của ông đóng quân tại Hà Đông, trú chân trong một gia đình làm nghề dệt vải truyền thống. Những ngày sống nhờ nơi mái nhà dân dã ấy, giữa tiếng khung cửi đều đặn mỗi đêm, ông gặp cô gái trong gia đình - người sau này trở thành ký ức không thể phai mờ trong đời ông. Tình cảm của họ đến nhẹ nhàng, không lời thề ước lớn lao, chỉ là những ánh nhìn, những câu chuyện vụn vặt trong những buổi tối hiếm hoi bình yên. Nhưng chiến tranh không chờ đợi ai. Khi tình yêu vừa kịp nảy nở, đơn vị nhận lệnh hành quân lên Tây Bắc, chuẩn bị cho chiến dịch lớn. Ngày chia tay, không có nhiều thời gian để nói. Cô gái lặng lẽ lấy một mảnh vải, ngồi may vội một chiếc túi dài – kiểu ruột tượng mà người lính thường dùng để đựng gạo. Đường kim có thể chưa thật đều, nhưng từng mũi chỉ đều chứa đựng nỗi nhớ và một lời hẹn không thành tiếng. Cô trao cho ông chiếc túi như trao gửi một niềm tin: rồi sẽ có ngày gặp lại. Ông Thược mang theo chiếc ruột tượng ấy suốt những năm tháng hành quân, chiến đấu. Nó theo ông qua những chặng đường rừng núi, qua cái đói, cái rét, và cả những khoảnh khắc sinh tử. Trong lòng chiếc túi là gạo nuôi sống người lính; còn trong lòng ông là hình bóng người con gái nơi hậu phương. Năm 1954, chiến dịch Điện Biên Phủ toàn thắng. Nhưng niềm vui chiến thắng chưa kịp trọn vẹn, ông được giữ lại làm nhiệm vụ. Thời gian kéo dài, tin tức bặt vô âm tín. Ở quê nhà, cô gái ngày ngày ngóng đợi. Sự chờ đợi dần trở thành nỗi khắc khoải. Không một lá thư, không một lời nhắn, chiến tranh như đã nuốt chửng người mà cô thương nhớ. Cuối cùng, trước sức ép của gia đình và nỗi tuyệt vọng của chính mình, cô đành nhận lời cầu hôn với một người khác. Đó không phải là sự lựa chọn của trái tim, mà là sự đầu hàng trước thời gian và số phận. Nhưng đúng vào thời điểm tưởng như mọi thứ đã khép lại, ông Thược đã trở về. Người lính năm nào, sau bao gian khó, vẫn mang theo bên mình chiếc ruột tượng cũ và một tình yêu chưa từng đổi thay. Cuộc gặp lại không cần nhiều lời. Chỉ cần nhìn thấy nhau, họ đã hiểu rằng những gì thuộc về nhau vẫn còn đó. Cô gái quyết định từ hôn, quay về bên người lính mà mình đã chờ đợi suốt những năm dài. Họ nắm tay nhau đi tiếp con đường còn lại của cuộc đời – một con đường không còn chiến tranh, nhưng vẫn in đậm dấu ấn của những tháng năm không thể quên. Chiếc ruột tượng từ đó được ông Thược gìn giữ như một báu vật. Nó không còn chỉ là vật dụng của người lính, mà trở thành chứng nhân cho một tình yêu đã đi qua thử thách của chiến tranh và thời gian. Nhiều năm sau, khi ông đã qua đời, người vợ – khi ấy đã ở tuổi xế chiều – vẫn nâng niu kỷ vật ấy như giữ lại một phần ký ức. Năm 2007, bà quyết định trao tặng chiếc ruột tượng cho Bảo tàng Ký vật Chiến tranh, để câu chuyện của họ không chỉ còn là kỷ niệm riêng, mà trở thành ký ức chung của nhiều thế hệ. Giữa vô vàn hiện vật của chiến tranh, chiếc túi vải giản dị ấy có thể không gây chú ý ngay từ cái nhìn đầu tiên. Nhưng nếu lắng lại, người ta sẽ thấy trong từng sợi vải đã cũ là cả một thời khói lửa, một đời người, và một mối tình đã vượt qua tất cả để ở lại.

Máy bay MIG21

Vừa qua, Bộ Tư Lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân (Bộ Quốc phòng) kính tặng Đảng bộ, nhân dân và lực lượng vũ trang Ninh Bình một hiện vật rất độc đáo và đặc biệt: Đó là chiếc may bay MIG 21 - F94. Máy bay MIG-21F94 thuộc loại máy bay tiêm kích (loại chỉ dùng trong chiến đấu trên không), mang số hiệu 6105. Thân thuôn tròn hình bầu dục dài, sơn mầu xanh hòa bình, thân gắn một động cơ phản lực; thân và cánh in cờ Không quân Nhân Dân Việt Nam. Đầu được lắp đặt hệ thống ra đa thời tiết, dẫn đường, sục sạo mục tiêu, máy hỏi, buồng lái lắp kính trắng, cạnh hông in số hiệu 6105 mầu đỏ. Sải cánh ngang hình tam giác, dưới gầm cánh có giá treo vũ khí như: Pháo, Tên lửa… đuôi đứng. Gầm giữa thân có treo một thùng dầu phụ, dưới cùng lắp đặt ba bánh lốp, hỗ trợ khi cất và hạ cánh. Máy bay có chiều dài là 15,76m; chiều rộng là 4,12m; sải cánh rộng: 7,5m; trọng lượng là 8726 kg (Khi mang tên lửa và thùng xăng phụ trọng lượng có thể lên tới 9660kg). Buồng lái phía trên thân máy bay chỉ bố trí một phi công bay. Máy bay tiêm kích MIG-21F94 được thiết kế và chế tạo do Cục thiết kế Mikoyan-Gurevich tại Liên bang Xô viết. MiG-21 là loại máy bay tiêm kích phản lực, đánh chặn, có tính năng chiến đấu cao, đạt tốc độ lớn nhất là 2.230km/h, độ cao lớn nhất là 18.000m, tầm bay xa là 1.800km, bán kính hoạt động 370-740km, thời gian hoạt động 1,5 giờ. Vũ khí và trang bị có thể mang tới 2.000kg bom khi làm nhiệm vụ cường kích, trang bị 1 khẩu pháo 23mm; 2 đến 4 tên lửa K-13AA; rốc két 57mm(64 quả). Theo các tài liệu cho biết: Ngày 14/6/1956 máy bay MIG khởi bay chuyến đầu tiên tại Liên Xô. Đến năm 1959, máy bay MIG chính thức được giới thiệu. Đến nay số lượng máy bay được sản xuất lên tới 10.352 chiếc, trong đó có 10.158 chiếc sản xuất tại Liên Xô và 194 chiếc sản xuất tại Tiệp Khắc. Hiện có tới trên 50 quốc gia sử dụng loai máy bay này và hiện nay một số nước vẫn đang sử dụng. Ở Việt Nam vẫn còn sử dụng tới 250 MiG-21. MIG đạt được một số kỷ lục như: Máy bay phản lực được sản xuất nhiều nhất trong lịch sử hàng không; Máy bay chiến đấu được sản xuất nhiều nhất từ sau Chiến tranh Thế giới lần thứ hai; Máy bay chiến đấu có thời gian sử dụng lâu nhất. Trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, quân chủng Phòng không-Không quân cùng với nhân dân và lực lượng vũ trang cả nước đã lập nên nhiều kỳ tích. Lực lượng Phòng không-Không quân đã ngoan cường chiến đấu, lập nhiều thành tích đập tan chiến tranh phá hoại miền Bắc bằng không quân của Mỹ-ngụy. Đặc biệt Đảng bộ và nhân dân Ninh Bình đã góp sức với nhiều người con ưu tú trong đó có Anh hùng LLVT-phi công Đỗ Văn Lanh. Máy bay MIG 21-F91 được trưng bày và giới thiệu tại Bảo tàng Ninh Bình là món quà vô cùng ý nghĩa của Quân chủng Phòng không-Không quân. Việc được mắt thấy, tay sờ một hiện vật-vũ khí chiến tranh độc đáo và đặc biệt có tác dụng mạnh trong việc giáo dục truyền thống "Uống nước nhớ nguồn" nhất là đối với thế hệ trẻ. Bên cạnh đó còn khơi dậy tình yêu quê hương đất nước, lòng tự hào dân tộc và ý thức gìn giữ bảo tồn, phát huy những giá trị lịch sử-văn hóa và truyền thống "Ngàn năm văn hiến".

Kỷ vật “hai mảnh chăn” – câu chuyện cảm động về tình đồng đội thời chiến.

Có những kỷ vật không mang giá trị lớn về vật chất nhưng lại chứa đựng cả một câu chuyện lịch sử đầy xúc động… Trong hàng nghìn kỷ vật của thời chiến được lưu giữ tại Bảo tàng tỉnh Ninh Bình, có những hiện vật không chỉ mang dấu ấn lịch sử mà còn chất chứa những câu chuyện cảm động sâu sắc. Nhân kỷ niệm 51 năm Ngày Giải phóng miền Nam thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2026), Bảo tàng tỉnh trân trọng giới thiệu tới quý vị về hai hiện vật tưởng chừng chỉ là vật dụng giản dị đời thường nhưng lại trở thành minh chứng xúc động cho tình đồng chí, đồng đội thiêng liêng trong những năm tháng kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc. Hai hiện vật chúng tôi muốn giới thiệu, đó là: Hai mảnh chăn! Hai mảnh chăn có màu ghi, hình chữ nhật, một lớp, trên thân dệt một số đường sọc trắng; một cạnh bị xé lệch, mép vải tưa sờn - dấu tích kể lại câu chuyện nhường nhau hơi ấm trong nghĩa tình đồng đội của những người lính! Hai mảnh chăn vốn có nguồn gốc từ một chiếc chăn dạ của ông Trần Trung Ẩm, chiến sĩ thuộc Sư đoàn 312, quê quán tại phường Thiên Trường, tỉnh Ninh Bình (xã Mỹ Trung, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định trước đây). Chiếc chăn được đơn vị cấp phát cho ông vào năm 1970 khi ông nhập ngũ, tham gia kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược. Năm 1972, trong quá trình chiến đấu tại Thành cổ Quảng Trị, khi đi qua một căn hầm, ông Trần Trung Ẩm bắt gặp một chiến sĩ bị thương, đang lên cơn sốt rét. Không chút do dự, ông đã cắt xé đôi chiếc chăn của mình, lấy một mảnh đắp cho đồng đội, nửa còn lại ông cất giữ để tiếp tục sử dụng trong những năm tháng chiến đấu gian khổ. Hành động ấy tuy giản dị nhưng chứa đựng tình đồng chí sâu nặng – sự sẻ chia trong hoàn cảnh mỗi vật dụng nhỏ nhất đều trở nên vô cùng quý giá. Mảnh chăn không chỉ giúp người lính ấy vượt qua cái lạnh, mà còn trở thành biểu tượng cho tinh thần tương thân tương ái, gắn bó, đồng cam cộng khổ của những người chiến sỹ nơi chiến trường khốc liệt. Sau chiến tranh, mảnh chăn được ông Trần Trung Ấm lưu giữ như một kỷ vật thiêng liêng của cuộc đời quân ngũ. Năm 2007, ông trao tặng mảnh chăn cho ông Vũ Đình Lưu - chủ sở hữu Bảo tàng Kỷ vật chiến tranh, phục vụ trưng bày. Đến năm 2009, trong quá trình sưu tầm kỷ vật tại huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương (nay là xã Nam Sách, TP Hải Phòng), một nửa còn lại của chiếc chăn bất ngờ được tìm thấy từ một cựu chiến binh (CCB). Những thông tin trùng khớp quá lời kể của người CCB đã làm sáng tỏ câu chuyện về nghĩa tình đồng đội giữa hai người lính trong chiến trường khốc liệt. Vô cùng xúc động khi biết người chiến sĩ bị thương năm xưa vẫn giữ gìn cẩn thận mảnh chăn của đồng đội mình như một kỷ vật thiêng, ông Lưu dự định tổ chức cuộc gặp gỡ giữa chủ nhân của hai mảnh chăn và nối liền chúng lại. Song ý định của ông chưa kịp thực hiện thì năm 2010 cựu chiến binh ở Nam Sách, Hải Phòng đã qua đời. Dù người lính năm xưa đã không còn nhưng câu chuyện về chiếc chăn vẫn còn nguyên giá trị, trở thành biểu tượng cho tình đồng chí, đồng đội cao đẹp của người lính Việt Nam, nhắc nhở mỗi chúng ta hôm nay biết trân trọng, gìn giữ và tiếp nối những giá trị thiêng liêng của quá khứ.

15

Năm thành lập

872

Tư liệu trưng bày

7625

Lượt truy cập