Bia chùa Giàu (tên chữ Ngô gia thị bi) là một hiện vật đá cổ có giá trị đặc biệt về lịch sử, mỹ thuật và văn hóa, hiện được lưu giữ tại chùa Giàu (ngôi chùa cổ có tên chữ Khánh Long tự), thôn 2, xã Đinh Xá, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam (nay là phường Liêm Tuyền, tỉnh Ninh Bình). Tương truyền, chùa được mở mang xây dựng với quy mô rộng lớn vào thời Trần, trải qua các thời kỳ lịch sử, chùa được tu bổ, tôn tạo khang trang.Tấm bia đặt trong chùa,nên gọi là bia chùa Giàu.Bia được chế tác bằng đá xanh nguyên khối, kích thước cao 1,0 m, rộng 0,59 m, dày 0,12 m, trọng lượng khoảng 200 kg. Đây là tấm bia đá có niên đại thời Trần, được dựng năm Bính Ngọ, niên hiệu Đại Trị thứ 9 (1366) đời vua Trần Dụ Tông. Với nhiều giá trị độc đáovề tạo hình và nội dung văn bia, bia chùa Giàu được đánh giá là hiện vật tiêu biểu phản ánh đời sống tôn giáo, xã hội và nghệ thuật điêu khắc thời Trần.
Giá trị về mặt điêu khắc
Bia đá chùa Giàu được chạm khắc độc đáo ở cả 2 mặt:
+ Nghệ thuật chạm khắc ởmặt trước
Trán bia hình vòng cung được phân chia làm 03 ô: Ô chính giữa tạo thành hình vuông, chạm nổi bốn chữ Hán大 偪通明, phiên âm: “Đại Phúc Thông Minh” (có nghĩa là: tôn quý có phúc lớn, sáng sủa, minh bạch), cũng có ý kiến khác phiên âm là “Lục Tổ Thông Minh”. Chữ khắc theo lối hành thảo thành hai hàng dọc, mỗi hàng hai chữ. Theo các nhà nghiên cứu, kiểu bố cục này phổ biến trên nhiều bia thời Lý và thời Trần.
Ở hai ô bên gần hình tam giác, chạm khắc 2 hình rồng đối xứng, trong tư thế đầu rồng ngẩng cao, chầu vào ô chính giữa. Hình rồng ở tư thế uốn 11 khúc mềm mại, thân tròn lẳn, mập mạp, thu nhỏ dần về phía đuôi; đầu rồng có bờm mào dài, mũi cao, sừng chạc, miệng há ngậm ngọc, răng nanh sắc nhọn, mang đặc trưng phong cách rồng thời Trần. Chân rồng chạm khắc 5 móng sắc nhọn, chân trước đỡ lấy cằm nâng viên ngọc báu.
Diềm bia chạm khắc mô - típ hoa dây uốn hình sin, chạy liên tiếptừ chân bia hướng lên 2 bên thành rồi lồng ngọn vào nhau ở đỉnh bia, trong mỗi khúc uốn lại trổ ra một bông hoa với nhiều tay xoắn móc toả về hai bên.
Chân bia chạm khắc bẩy hình lá đề, xen kẽ phía trên là 6 hạt tròn nhọn đầu, bên trong mỗi lá đề có khắc hình sừng tê. Đầu nhọn lá đề hướng lên trên.
Thân bia, chạm khắc nổi theo dạng bức phù điêu chân dung một vị Hoàng đế, đang ngồi trên ngai rồng, tư thế ngồi chính diện, có vòng hào quang trên đầu, tay ngai chạm đầu rồng. Ngai rồng đặt trên tòa đài sen, các cánh sen uốn cong đối xứng.
Chân dung Hoàng đế được chạm khắc trên mặt bia thể hiện địa vị quyền quý rất cao của Đức Ngài trong xã hội: Trên đầu Đức Ngài đội mũ “bình thiên”, chính giữa mũ nổi hình tròn biểu trưng cho mặt trời, xung quanh hai bên là các chấm tròn nhỏ nối nhau bằng các đường thẳng biểu trưng các vì tinh tú. Khuôn mặt chân dung của Đức Ngài chạm khắc rất đầy đặn theo các nét quý tướng: mắt xếch, lông mày rậm, mũi thẳng nhô cao, có ria mép, dáng vẻ quắc thước, hai tai to chảy dài xuống, hai chân buông thẳng, mũi bàn chân quay về hai phía. Cổ Ngài đeo vòng có trang trí các chấm tròn, cứ một chấm tròn lại đến một dây tua có các chấm tròn, ngoài cùng của dây chấm tròn là hình kiểu “búp đa” hay “lá đề”. Trang phục của Hoàng đế thể hiện hai lớp áo: Lớp ngoài là áo khoác dài, tay áo thụng, rộng, dài che kín toàn bộ xuống đến chân, có các dải trang trí mềm mại. Chính giữa có ba dải chạy thẳng xuống tới chân, trong đó dải ở giữa có chữ “Vương” trong khung hình tròn, phía dưới là chữ “Á”, đuôi của các dải này vát hình chữ V, cũng có các tua dây với một chấm tròn và một chấm hình “búp đa”. Hai bên vạt áo có 2 hình chim đối xứng. Lớp áo bên trong là loại áo bó thân với kiểu cổ vát hình chữ V. Hai tay Hoàng đế cầm “hốt” chắp trước ngực.
-Nghệ thuật chạm khắc ở mặt sau
Khắc chữ Hán thể hiện nội dung tấm bia, nét chữ tự do, không đều, nhiều chữ đã bị mờ không đọc được. Phía ngoài cùng bên phải khắc tiêu đề “Ngô gia thị bi”(Văn bia họ Ngô). Phần chính văn của bia gồm 7 dòng, mỗi dòng 19 chữ, nội dung ghi về việc có một nhà sư hiệu “Viên tích đại sa môn” đã xin Phật tam thế cho phép mình từ am Đại Long chuyển về tiểu am thôn Mai và nhà sư đã mất tại đó vào năm Hưng Long thứ 13 (năm 1305) đời vua Trần Nhân Tông. Nhà sư họ Ngô, hiệu “Ngộ Không cư sĩ” thuộc bản am đã quyết định an táng nhà sư “Viên tích đại sa môn” và dựng nhà tại đây. Phần còn lại ghi chép họ và tên người cúng tiến ruộng ao cho chùa.
Tấm bia là hiện vật gốc độc bản:
Bia đá chùa Giàu là hiện vật gốc, độc bản, hiện trạng còn tương đối nguyên vẹn. Tấm bia được dựng tại chùa và gắn với lịch sử ngôi chùa. Bia được tạo hình bằng một tấm đá xanh, trang trí chạm khắc nổi và bài minh văn không trùng với bất kỳ tấm bia nào cùng thời. Là tấm bia cổ thời Trần duy nhất được phát hiện trên đất Hà Nam được khắc vào năm Bính Ngọ, niên hiệu Đại Trị 9 (năm 1366) đời vua Trần Dụ Tông.
Tấm bia là hiện vật có hình thức độc đáo:
Trên tổng thể tư liệu bia ký thời Trần, đây là tấm bia duy nhất được tạo tác mà trên đó chạm khắc nổi chân dung một vị Hoàng đế thời Trần, là một tác phẩm mỹ thuật độc đáo quý hiếm thời Trần ở Hà Nam nói riêng cũng như cả nước nói chung. Một số nhà nghiên cứu khảo cổ, mỹ thuật, căn cứ trên hình tượng điêu khắc trên bia như: ngai, mũ, trang phục...có đưa ra giả thiết đó là hình ảnh chân dung của Hoàng đế Trần Nhân Tông.Hoàng đế Trần Nhân Tông là Tổ của Thiền phái Trúc Lâm, tức Vua đã hoá Phật, hay là Phật tái thế, do đó bức chân dung chùa Giàu có tư thế và trang phục vua, có đài sen và hào quang của Phật là hoàn toàn phù hợp với chân dung vua Trần Nhân Tông. Đây là hình ảnh vua Việt Nam sớm nhất hiện nay được biết, là mẫu cho các tượng vua và Ngọc Hoàng được tạo dựng vào cuối thế kỷ XVI và đầu thế kỷ XVII.
Bia chùa Giàu là hiện vật có giá trị đặc biệt về lịch sử, văn hóa, khoa học:
Tấm bia chùa Giàu cung cấp nhiều nguồn tư liệu quý hiếm trên các phương diện: ký tự học, mỹ thuật học, địa lý học lịch sử. Tấm bia còn giúp cho việc tìm hiểu về lịch sử, tôn giáo, chữ viết thời Trần, đặc biệt là sự xuất hiện của chữ Nôm khắc trong văn bia. Ngoài ra, nội dung văn bia còn cho biết, chế độ sở hữu ruộng đất, đơn vị đo đường, vai trò của Đạo giáo và Phật giáo thời Trần, nguồn gốc các dòng họ, chức vụ quản lý cấp cơ sở (xã), phân bố dân cư giữa người Kinh và người thiểu số vào thời Trần ở nơi đây ...
Về địa danh hành chính: Đây là tấm bia đầu tiên nhắc đến đơn vị hành chính “Lợi Nhân lộ”mà các tư liệu hiện biết đến nay không nhắc tớitrong hệ thống tổ chức hành chính nhà Trần. Lộ là đơn vị hành chính có thời Lý, sau khi giành được chính quyền, nhà Trần đã phân chia lại Đại Việt thành 12 lộ thay vì 24 lộ như ở thời Lý(5) tuy nhiên hoàn toàn không có tên lộ Lợi Nhân.
Về chữ Nôm: Không kể những chữ mờ, mất văn bia còn ba chữ Nôm chỉ số 2, số 4 chữ Hán thay cho số 3. Hai chữ “Nguyệt” viết thiếu nét, 5 chữ “Bính” thay cho hướng Nam (dụng theo ngũ hành, thập can), điều này cho thấy có thể chữ “Nguyệt” và “ Nam” là không, húy của hoàng tộc nhà Trần thời kỳ đó.
Về tôn giáo: Đề tài trang trí bia chùa Giàu thể hiện sự dung hòa, hòa hợp tôn giáo thời Trần, là minh chứng rõ nhất cho tư tưởng “Tam giáo đồng nguyên”. Toàn bộ nội dung văn bia nói đến việc xây dựng chùa, tuy nhiên, phần mỹ thuật được chạm khắc ở chân bia thể hiện tư tưởng của Đạo giáo, đó là hình ảnh các lá đề được chạm khắc trong đó có lồng vật biểu trưng của đạo giáo, đó là hình tượng các cặp sừng tê.
Với những giá trị tiêu biểu và độc đáo đó, bia chùa Giàu đã được Thủ tướng Chính phủ quyết định công nhận là Bảo vật quốc giatại số 41/QĐ-TTg ngày 30/01/2023, trở thành di sản đặc biệt có ý nghĩa quan trọng trong việc nghiên cứu, bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa trên địa bàn tỉnh Ninh Bình cũng như trong kho tàng di sản văn hóa của Việt Nam.
Tin tức nhiều lượt xem nhất
Tin tức mới nhất
Chiếc lọ ký ức
1 ngày trước
Bộ Phủ Việt tại đền thờ vua Đinh Tiên Hoàng
20/03/2026

.jpg)

.jpg)




