CHÀO MỪNG ĐẾN VỚI CỔNG THÔNG TIN BẢO TÀNG NINH BÌNH!

Bia Sùng Thiện Diên Linh - Bảo vật quốc gia thời Lý

  04:03 PM 15/01/2026        34
Ngày 30/12/2013, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 2599/QĐ-TTg công nhận Bia Sùng Thiện Diên Linh - hiện đang được lưu giữ tại Di tích quốc gia đặc biệt chùa Long Đọi Sơn (phường Tiên Sơn, tỉnh Ninh Bình) là Bảo vật quốc gia Bia được dựng ngày 6 tháng 7 niên hiệu Thiên Phù Duệ Vũ 2 (1121), chất liệu đá xanh nguyên khối, cao 2,5m, rộng 1,75m, dày 0,30m, trán bia cao 0,30m; bệ bia hình bầu dục cao 0,50m, dài 2,4m, rộng 1,8m. Bia khắc chữ Hán ở hai mặt. Mặt trước có 4.257 chữ, trên trán khắc tên bia: “Đại Việt quốc đương gia Đệ tứ đế Sùng Thiện Diên Linh tháp bi” (Bia tháp Sùng Thiện Diên Linh, vua thứ tư đương triều nước Đại Việt) do vua Lý Nhân Tông ngự đề theo lối chữ phi bạch, chia thành 7 hàng dọc mỗi hàng hai chữ, đây là tư liệu quan trọng để tìm hiểu về nghệ thuật thư pháp thời Lý. Lòng bia khắc bi văn, minh văn và dòng lạc khoản do Triều liệt Hình bộ Thượng thư, Binh bộ Viên ngoại lang, Đồng tri phiên công viện chủ sự Nguyễn Công Bật soạn; Hữu Thị lang, Thượng thư Công bộ Viên ngoại lang Đồng tri Thẩm hình viện sự, Thượng khinh xa Đô Úy Tử kim ngư Lý Bảo Cung viết chữ. Nội dung được chia thành ba phần rõ rệt: Phần đầu ca ngợi Đức Phật Thích Ca và giáo lý sâu sắc của Phật giáo Phần thứ hai ca ngợi vua Lý Nhân Tông, từ điềm thiêng lúc đầu thai khi ra đời, tài năng, công đức dựng chùa, xây tháp đến sự trị vì đất nước thịnh trị của nhà vua. Văn bia còn ca ngợi Thái úy Lý Thường Kiệt – một nhân vật lịch sử nổi tiếng thời Lý và cung cấp những thông tin quý hiếm về Hội đèn Quảng Chiếu bảy ngày bảy đêm ở kinh thành Thăng Long thời Lý, múa rối nước, nghi lễ mật giáo, sửa chùa Diên Hựu (chùa Một Cột) cùng các trò chơi giải trí dân gian và cung đình. Phần ba kể lại quá trình xây dựng tháp Sùng Thiện Diên Linh và ngôi chùa Long Đọi Sơn. Mặt sau, lòng bia khắc thành năm đoạn với năm niên đại khác nhau, cỡ chữ to nhỏ khác nhau: Đoạn thứ nhất khắc vào ngày 6 tháng 7 niên hiệu Thiên Phù Duệ Vũ 2 (1121) ghi lại việc Phù thánh linh nhân Thái hậu (Ỷ Lan) mẹ vua Lý Nhân Tông, tiến cúng 72 mẫu ruộng ở xứ Mạn Để hai xã Cẩm Trục, Thu Lãng huyện Cẩm Giang, phủ Thượng Hồng. Đoạn thứ hai khắc bài thơ của vua Lê Thánh Tông làm vào năm thứ 8 niên hiệu Quang Thuận (1467) khi về qua thăm chùa, do bề tôi là Lê Văn tướng quân vâng mệnh viết chữ. Đoạn thứ ba khắc vào tiết Đoan dương ngày mồng 5 tháng 5 năm Tân Mão niên hiệu Hưng Trị 4 (1591) ghi về việc cai huyện Duy Tân, Đô chỉ huy Vân Bảng bá, Đồng ty quan Phú Triều bá, Phù Thắng bá, Cai quan Lam Kiều bá cùng giáp Nhất, giáp Nhì, giáp Tam xã Đội Sơn cùng các xã Đội Trung, Đội Lĩnh, Trung Tín dựng lại bia đổ, bắc lại xà nhà, tu bổ tượng hỏng, làm lại cổng, xây tường sau hơn năm trăm năm bị hủy hoại hư hỏng. Đoạn thứ tư khắc vào ngày mồng 7 đầu tháng 10 niên hiệu Chính Hòa 19 (1698) ghi nội dung văn ước các thửa đất ruộng Tam bảo của xã Đội Sơn. Đoạn thứ năm, chữ bị mờ và mất nhiều, ghi lại khoảng hơn 40 thửa ruộng, ao, diện tích xứ đồng, giáp ranh, họ tên của tín chủ ở các thôn xã tiến cúng ruộng, ao cho Tam bảo chùa Đội Sơn. Không chỉ có giá trị lịch sử, bia Sùng Thiện Diên Linh còn là một kiệt tác điêu khắc đá. Mặt trước, trán bia hình cung, chia làm ba băng trang trí, trung tâm tạo một khung ô hình chữ nhật khắc nổi tên bia, chữ cỡ lớn theo lối chữ phi bạch do vua Lý Nhân Tông ngự đề. Hai bên ô chữ tạo thành hai góc nhọn đều đối xứng, bên trong trang trí đăng đối đồ án rồng chầu vào tên bia, gồm hai rồng. Rồng kéo dài thể hiện theo lối nhìn nghiêng, đầu rồng ngước lên cao. Thân rồng cuộn khúc uốn lượn thuôn dần đến cuối đuôi trùng khít với phần diềm của trán bia. Mình rồng tròn trơn uốn lượn mềm mại hình sin, các khúc uốn lượn phình to nhưng co lại gần nhau, đều đặn thon dần về đuôi. Rồng có ba chân đạp mây vươn về phía trước, mỗi chân đều có khuỷu và ba móng. Xung quanh rồng tạo thành những dải mây hình lửa đan xen quanh chân rồng. Trên lưng rồng lớn là một con rồng chầu nhỏ uốn lượn nằm dàn trên bốn khúc lượn của rồng lớn, tạo nên một đôi rồng ổ (mẫu tử). Phía dưới phần tiếp giáp với đôi rồng tạo một đường băng hoa văn đối xứng nhau, được trang trí hình lá đề cách điệu, thành dạng dấu hỏi. Diềm trên trán bia hình vòng cung chạm khắc các con rồng nối tiếp nhau. Diềm dưới của trán bia hình chữ nhật cũng chạm các con rồng nối tiếp nhau, nhưng đáng chú ý là khoảng giữa có một ô trang trí lá đề. Diềm bên của thân bia cũng được trang trí khá công phu tỉ mỉ. Đồ án trang trí là hình tượng rồng, gồm những con rồng nhỏ, thân mảnh, dàn đều trong khoảng rộng của diềm bia. Phần đuôi rồng uốn lượn hình sin thu dần về cuối đuôi. Đầu rồng ở diềm bia hai bên đều ở tư thế vươn lên phía trên hướng về trán bia. Thành bia hai bên trang trí khá độc đáo, mỗi bên tạo 9 ô quả trám vuông hình cạnh 8cm, nối tiếp nhau. Hai góc bên quả trám tiếp giáp với rìa cạnh, góc trên, góc dưới nối tiếp nhau tạo thành một băng trang trí khép kín từ trên xuống dưới. Đường viền cạnh của quả trám khắc sâu tạo thành đường soi chỉ. Trung tâm quả trám chạm một đôi rồng chầu, rồng uốn lượn, đầu chầu vào nhau, đuôi nối nhau thành một đường khép kín. Xung quanh là những con rồng nhỏ nối tiếp nhau theo hình quả trám. Bệ đá đội bia hình bầu dục cao 50cm, dài 2,4m, rộng 1,8m. Mặt bia chia thành hai phần đối xứng nhau. Ở giữa tạo hộc đặt bia. Hai mặt trên bệ bia mỗi bên chạm hai con rồng. Rồng được chạm nổi khối, thân to tròn trơn uốn thành năm khúc, đầu chầu vào nhau hướng lên phía trên bia. Hai thân rồng đối xứng cuộn đều ra phần bệ bia. Đuôi rồng giao nhau, uốn khít hình “vặn thừng” thon nhỏ dần. Rồng có ba chân lớn, năm móng nhọn bám chặt xuống bệ bia. Phần bệ bia tiếp giáp với nền, xung quanh tạo thành hai lớp hoa văn sóng nước. Lớp trên tạo sóng nước hình quả núi, mỗi sóng nước có ba ngọn cao thấp khác nhau. Xen giữa các ngọn sóng là ba gợn sóng hình vòng cung. Lớp dưới tạo thành sóng nước hình cung cũng gồm ba lớp sóng. Mặt sau, trán bia được chạm khắc trang trí khác với mặt trước. Giữa trán bia chạm nổi hình lá đề biến thể, hai bên mỗi bên chạm một con rồng lớn chầu vào lá đề. Cũng giống như trán bia mặt trước, trên lưng đôi rồng lớn là một đôi rồng nhỏ, uốn lượn mềm mại theo những uốn khúc của rồng lớn. Hình tượng rồng và đồ án trang trí trên diềm trán bia, diềm hai bên thân bia cùng phong cách với mặt trước bia. Với nội dung phong phú, nghệ thuật chạm khắc tinh vi và giá trị tư liệu đặc biệt, bia Sùng Thiện Diên Linh là một trong những tấm bia thời Lý tiêu biểu và quan trọng nhất hiện còn trên địa bàn tỉnh Ninh Bình, đồng thời là một nguồn tư liệu quý giá để nghiên cứu về Phật giáo, lịch sử, văn hóa và nghệ thuật thời Lý. Trải qua gần nghìn năm, bia Sùng Thiện Diên Linh vẫn đứng vững trên đỉnh Long Đọi Sơn, lặng lẽ chứng kiến bao biến thiên của lịch sử và cuộc sống. Từ triều Lý hưng thịnh đến những thời kỳ tiếp nối, tấm bia luôn được nhân dân trân trọng gìn giữ, như một phần không thể tách rời của ký ức dân tộc. Ngày nay, việc bảo tồn và phát huy giá trị của Bia Sùng Thiện Diên Linh không chỉ là gìn giữ một bảo vật quốc gia, mà còn là gìn giữ mạch nguồn văn hóa, để tinh thần Đại Việt tiếp tục được lan tỏa trong đời sống đương đại và truyền lại cho các thế hệ mai sau.

Ngày 30/12/2013, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 2599/QĐ-TTg công nhận Bia Sùng Thiện Diên Linh - hiện đang được lưu giữ tại Di tích quốc gia đặc biệt chùa Long Đọi Sơn (phường Tiên Sơn, tỉnh Ninh Bình) là Bảo vật quốc gia

Bia được dựng ngày 6 tháng 7 niên hiệu Thiên Phù Duệ Vũ 2 (1121), chất liệu đá xanh nguyên khối, cao 2,5m, rộng 1,75m, dày 0,30m, trán bia cao 0,30m; bệ bia hình bầu dục cao 0,50m, dài 2,4m, rộng 1,8m. Bia khắc chữ Hán ở hai mặt. Mặt trước có 4.257 chữ, trên trán khắc tên bia: “Đại Việt quốc đương gia Đệ tứ đế Sùng Thiện Diên Linh tháp bi” (Bia tháp Sùng Thiện Diên Linh, vua thứ tư đương triều nước Đại Việt) do vua Lý Nhân Tông ngự đề theo lối chữ phi bạch, chia thành 7 hàng dọc mỗi hàng hai chữ, đây là tư liệu quan trọng để tìm hiểu về nghệ thuật thư pháp thời Lý. Lòng bia khắc bi văn, minh văn và dòng lạc khoản do Triều liệt Hình bộ Thượng thư, Binh bộ Viên ngoại lang, Đồng tri phiên công viện chủ sự Nguyễn Công Bật soạn; Hữu Thị lang, Thượng thư Công bộ Viên ngoại lang Đồng tri Thẩm hình viện sự, Thượng khinh xa Đô Úy Tử kim ngư Lý Bảo Cung viết chữ. Nội dung được chia thành ba phần rõ rệt:

Phần đầu ca ngợi Đức Phật Thích Ca và giáo lý sâu sắc của Phật giáo

Phần thứ hai ca ngợi vua Lý Nhân Tông, từ điềm thiêng lúc đầu thai khi ra đời, tài năng, công đức dựng chùa, xây tháp đến sự trị vì đất nước thịnh trị của nhà vua. Văn bia còn ca ngợi Thái úy Lý Thường Kiệt – một nhân vật lịch sử nổi tiếng thời Lý và cung cấp những thông tin quý hiếm về Hội đèn Quảng Chiếu bảy ngày bảy đêm ở kinh thành Thăng Long thời Lý, múa rối nước, nghi lễ mật giáo, sửa chùa Diên Hựu (chùa Một Cột) cùng các trò chơi giải trí dân gian và cung đình.

Phần ba kể lại quá trình xây dựng tháp Sùng Thiện Diên Linh và ngôi chùa Long Đọi Sơn.

Mặt sau, lòng bia khắc thành năm đoạn với năm niên đại khác nhau, cỡ chữ to nhỏ khác nhau:

 Đoạn thứ nhất khắc vào ngày 6 tháng 7 niên hiệu Thiên Phù Duệ Vũ 2 (1121) ghi lại việc Phù thánh linh nhân Thái hậu (Ỷ Lan) mẹ vua Lý Nhân Tông, tiến cúng 72 mẫu ruộng ở xứ Mạn Để hai xã Cẩm Trục, Thu Lãng huyện Cẩm Giang, phủ Thượng Hồng.

Đoạn thứ hai khắc bài thơ của vua Lê Thánh Tông làm vào năm thứ 8 niên hiệu Quang Thuận (1467) khi về qua thăm chùa, do bề tôi là Lê Văn tướng quân vâng mệnh viết chữ.

Đoạn thứ ba khắc vào tiết Đoan dương ngày mồng 5 tháng 5 năm Tân Mão niên hiệu Hưng Trị 4 (1591) ghi về việc cai huyện Duy Tân, Đô chỉ huy Vân Bảng bá, Đồng ty quan Phú Triều bá, Phù Thắng bá, Cai quan  Lam Kiều bá cùng giáp Nhất, giáp Nhì, giáp Tam xã Đội Sơn cùng các xã Đội Trung, Đội Lĩnh, Trung Tín dựng lại bia đổ, bắc lại xà nhà, tu bổ tượng hỏng, làm lại cổng, xây tường sau hơn năm trăm năm bị hủy hoại hư hỏng.

 Đoạn thứ tư khắc vào ngày mồng 7 đầu tháng 10 niên hiệu Chính Hòa 19 (1698) ghi nội dung văn ước các thửa đất ruộng Tam bảo của xã Đội Sơn.

Đoạn thứ năm, chữ bị mờ và mất nhiều, ghi lại khoảng hơn 40 thửa ruộng, ao, diện tích xứ đồng, giáp ranh, họ tên của tín chủ ở các thôn xã tiến cúng ruộng, ao cho Tam bảo chùa Đội Sơn.

Không chỉ có giá trị lịch sử, bia Sùng Thiện Diên Linh còn là một kiệt tác điêu khắc đá.

 Mặt trước, trán bia hình cung, chia làm ba băng trang trí, trung tâm tạo một khung ô hình chữ nhật khắc nổi tên bia, chữ cỡ lớn theo lối chữ phi bạch do vua Lý Nhân Tông ngự đề. Hai bên ô chữ tạo thành hai góc nhọn đều đối xứng, bên trong trang trí đăng đối đồ án rồng chầu vào tên bia, gồm hai rồng. Rồng kéo dài thể hiện theo lối nhìn nghiêng, đầu rồng ngước lên cao. Thân rồng cuộn khúc uốn lượn thuôn dần đến cuối đuôi trùng khít với phần diềm của trán bia. Mình rồng tròn trơn uốn lượn mềm mại hình sin, các khúc uốn lượn phình to nhưng co lại gần nhau, đều đặn thon dần về đuôi. Rồng có ba chân đạp mây vươn về phía trước, mỗi chân đều có khuỷu và ba móng. Xung quanh rồng tạo thành những dải mây hình lửa đan xen quanh chân rồng. Trên lưng rồng lớn là một con rồng chầu nhỏ uốn lượn nằm dàn trên bốn khúc lượn của rồng lớn, tạo nên một đôi rồng ổ (mẫu tử). Phía dưới phần tiếp giáp với đôi rồng tạo một đường băng hoa văn đối xứng nhau, được trang trí hình lá đề cách điệu, thành dạng dấu hỏi. Diềm trên trán bia hình vòng cung chạm khắc các con rồng nối tiếp nhau. Diềm dưới của trán bia hình chữ nhật cũng chạm các con rồng nối tiếp nhau, nhưng đáng chú ý là khoảng giữa có một ô trang trí lá đề.

 Diềm bên của thân bia cũng được trang trí khá công phu tỉ mỉ. Đồ án trang trí là hình tượng rồng, gồm những con rồng nhỏ, thân mảnh, dàn đều trong khoảng rộng của diềm bia. Phần đuôi rồng uốn lượn hình sin thu dần về cuối đuôi. Đầu rồng ở diềm bia hai bên đều ở tư thế vươn lên phía trên hướng về trán bia.

Thành bia hai bên trang trí khá độc đáo, mỗi bên tạo 9 ô quả trám vuông hình cạnh 8cm, nối tiếp nhau. Hai góc bên quả trám tiếp giáp với rìa cạnh, góc trên, góc dưới nối tiếp nhau tạo thành một băng trang trí khép kín từ trên xuống dưới. Đường viền cạnh của quả trám khắc sâu tạo thành đường soi chỉ. Trung tâm quả trám chạm một đôi rồng chầu, rồng uốn lượn, đầu chầu vào nhau, đuôi nối nhau thành một đường khép kín. Xung quanh là những con rồng nhỏ nối tiếp nhau theo hình quả trám.

Bệ đá đội bia hình bầu dục cao 50cm, dài 2,4m, rộng 1,8m. Mặt bia chia thành hai phần đối xứng nhau. Ở giữa tạo hộc đặt bia. Hai mặt trên bệ bia mỗi bên chạm hai con rồng. Rồng được chạm nổi khối, thân to tròn trơn uốn thành năm khúc, đầu chầu vào nhau hướng lên phía trên bia. Hai thân rồng đối xứng cuộn đều ra phần bệ bia. Đuôi rồng giao nhau, uốn khít hình “vặn thừng” thon nhỏ dần. Rồng có ba chân lớn, năm móng nhọn bám chặt xuống bệ bia. Phần bệ bia tiếp giáp với nền, xung quanh tạo thành hai lớp hoa văn sóng nước. Lớp trên tạo sóng nước hình quả núi, mỗi sóng nước có ba ngọn cao thấp khác nhau. Xen giữa các ngọn sóng là ba gợn sóng hình vòng cung. Lớp dưới tạo thành sóng nước hình cung cũng gồm ba lớp sóng.

Mặt sau, trán bia được chạm khắc trang trí khác với mặt trước. Giữa trán bia chạm nổi hình lá đề biến thể, hai bên mỗi bên chạm một con rồng lớn chầu vào lá đề. Cũng giống như trán bia mặt trước, trên lưng đôi rồng lớn là một đôi rồng nhỏ, uốn lượn mềm mại theo những uốn khúc của rồng lớn.

Hình tượng rồng và đồ án trang trí trên diềm trán bia, diềm hai bên thân bia cùng phong cách với mặt trước bia.

Với nội dung phong phú, nghệ thuật chạm khắc tinh vi và giá trị tư liệu đặc biệt, bia Sùng Thiện Diên Linh là một trong những tấm bia thời Lý tiêu biểu và quan trọng nhất hiện còn trên địa bàn tỉnh Ninh Bình, đồng thời là một nguồn tư liệu quý giá để nghiên cứu về Phật giáo, lịch sử, văn hóa và nghệ thuật thời Lý.

Trải qua gần nghìn năm, bia Sùng Thiện Diên Linh vẫn đứng vững trên đỉnh Long Đọi Sơn, lặng lẽ chứng kiến bao biến thiên của lịch sử và cuộc sống. Từ triều Lý hưng thịnh đến những thời kỳ tiếp nối, tấm bia luôn được nhân dân trân trọng gìn giữ, như một phần không thể tách rời của ký ức dân tộc. Ngày nay, việc bảo tồn và phát huy giá trị của Bia Sùng Thiện Diên Linh không chỉ là gìn giữ một bảo vật quốc gia, mà còn là gìn giữ mạch nguồn văn hóa, để tinh thần Đại Việt tiếp tục được lan tỏa trong đời sống đương đại và truyền lại cho các thế hệ mai sau.