Tìm hiểu trò Rối nước làng Nội Rối xưa kia
Việc phát hiện, tìm hiểu về nghệ thuật múa rối nước của làng Nội Rối, Chương Lương (xã Bắc Lý, tỉnh Ninh Bình) và qua các thư tịch cổ cho chúng ta có cái nhìn toàn diện hơn về nghệ thuật múa rối nước trên vùng đất Ninh Bình. Đồng thời là cơ sở để cơ quan quản lý chuyên ngành và chính quyền địa phương trong thời gian tới có biện pháp nghiên cứu, sưu tầm, khôi phục, tiến tới lập hồ sơ khoa học múa rối (múa rối nước và múa rối cạn) của tỉnh Ninh Bình và các tỉnh, thành: Hà Nội, Hưng Yên, Hải Phòng…đề nghị Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trình Chính phủ đề nghị UNESCO xem xét ghi danh vào danh sách di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại.
Do nhiều nguyên nhân mà đến nay nghệ thuật múa rối (rối nước, rối cạn) trên vùng đất Hà Nam đã mai một, thất truyền, nhưng qua các thư tịch và hồi cố của các cao niên, trước kia ở một số nơi có phường rối hoạt động. Chúng tôi đã từng bước tìm hiểu dấu tích về múa rối trên địa bàn Hà Nam xưa, trong đó có phường rối thôn Nội Rối, xã Bắc Lý
Rối nước làng Nội Rối có từ bao giờ, không ai còn nhớ rõ. Chỉ biết, phường rối đã tồn tại hàng trăm năm và thất truyền vào khoảng những năm 40 của thế kỷ trước. Theo các cụ cao niên trong làng cho biết: tên đầu tiên của làng là Phú Nội. Làng có nghệ thuật múa rối nước nên làng lấy hai từ: “ Nội” của tên làng cũ và “Rối” ghép lại đặt tên cho làng.
Làng Nội Rối xưa định lệ: Hàng năm từ ngày mồng một đến ngày mồng 10 tháng 3 âm lịch làng mở hội với sự tham gia của 4 giáp. Cùng với tế lễ còn có nhiều hình thức sinh hoạt văn hoá dân gian: hát chèo, đấu cờ tướng, leo cầu kiều, bắt vịt… Nhộn nhịp, đông vui nhất là múa rối nước ở ao đình. Dân làng cho biết, trước năm 1945 làng vẫn còn nhà rối (thuỷ đình). Do chiến tranh và sự tàn phá của thiên nhiên nên một thời gian sau thuỷ đình đã bị huỷ hoại, hiện chỉ còn nền, móng trên gò đất nổi giữa hồ nước phía đông đình. Thời đó, vì cuộc sống mưu sinh, nhiều người trong phường rối đã bỏ làng phiêu bạt khắp nơi kiếm kế sinh nhai, người ở lại chuyển sang làm công việc khác. Đến nay những người gắn bó và giữ bí quyết về nghề múa rối nước không còn. Để tìm hiểu sâu hơn về nghề múa rối nước, chúng tôi đã về làng Nội Rối gặp và trao đổi một số cụ cao niên từng được các bậc tiền nhân kể cho nghe về múa rối nước của làng. Xin được chắp nối các thông tin bước đầu về múa rối nước làng Nội Rối để độc giả tham khảo:
VỀ QUY TRÌNH TẠO CON RỐI
Cũng như nhiều làng rối khác, người dân Nội Rối thường chọn gỗ sung già, nhẹ, dễ nổi trên mặt nước. Gỗ sung chọn làm con rối phải có thớ mịn, không có các vết sâu đục, không có mấu, không dễ gãy. Người thợ cắt gỗ thành những khúc vừa kích thước con rối, bóc vỏ và để cho gỗ khô dần. Các con rối sẽ bị sũng nước và mục nếu gỗ không được phơi thật khô. Theo các cụ cao niên, trong nghệ thuật múa rối nước vai trò tạo hình là rất quan trọng. Tạo hình các con rối có hai công việc chính: Một là tạo hình bộ mặt, chân tay và thân hình con rối; hai là mặc quần áo và trang điểm cho con rối gỗ thành các nhân vật trong tích trò. Đạo cụ gắn với con rối phải thích hợp với nhân vật mà con rối đảm nhiệm. Một điều đáng chú ý nữa là trong việc tạo hình cho mỗi con rối, nghệ nhân phải có trí tưởng tượng phong phú, bay bổng và luôn nghĩ đến cái lạ, cái đẹp. Khâu cuối cùng, người thợ sơn phủ lên bề mình theo các bước: Sơn phủ con rối (bằng một lớp sơn ta trộn với đất sét, sau đó dùng một viên cuội để đánh bóng rồi dùng đá màu cọ xát thân rối trong nước); Sơn lót (người thợ sơn con rối thêm vài lần nữa để lấp kín mọi vết nứt. Sau khi khô, cứ mỗi lớp sơn lại được người thợ dùng một viên đá để đánh bóng); Thếp bạc (trong lúc sơn còn chưa khô, người thợ dán lên các lá quỳ dày 3cm, rộng 4cm).
NGHỆ THUẬT BIỂU DIỄN MÚA RỐI
Nghệ nhân rối của làng dùng các thanh tre được nối với nhau bằng dây thừng cho nhẹ để khi điều khiển cho phép con rối thực hiện các chuyển động từ đơn giản đến phức tạp. Tiết mục biểu diễn của phường rối gồm các tích trò: “Đốt pháo mở cờ”, múa “Tứ linh”, “Đánh cá”, trò “Bật cờ”, “múa Tễu”, “Canh nông”, “múa Sư tử”, “Đấu mã”, “Chăn vịt đánh đáo”, “Đua thuyền”… phản ánh sinh động cuộc sống lao động, sản xuất, sinh hoạt, tập tục tín ngưỡng truyền đời của cư dân trồng lúa nước. Đồng thời ca ngợi tình yêu quê hương đất nước, cổ vũ truyền thống “Uống nước, nhớ nguồn”, tương thân, tương ái, mang ý nghĩa nhân văn, nhân đạo sâu sắc . Các tích trò được biểu diễn trên nền nhạc chèo truyền thống.
Cũng giống như nghệ thuật rối nước dân tộc, nghệ thuật rối nước làng Nội Rối vốn xuất thân từ những trò không lời, thu hút người xem bằng sự tài năng của các nghệ nhân tạo hình, nghệ nhân điều kiển. Nghệ thuật rối nước làng Nội Rối do được sinh ra trên cái nôi của nghệ thuật chèo truyền thống vì thế các nghệ nhân múa rối ở đây đã biết tận dụng triệt để âm nhạc của chèo để làm nền cho các tích trò rối thăng hoa. Nhạc cụ ở phường rối gồm: Bộ gõ: Trống đại, trống trung, trống tiểu, thanh la, nạo bạt, mõ, chiêng; Bộ hơi: Sáo, kèn (kèn tàu); Bộ dây: Hồ, líu, nhị, đàn tranh, đàn tam. Các tiết mục biểu diễn của các nghệ nhân lôi cuốn dân làng không chỉ bởi những hình ảnh trên sân khấu mà còn bởi những âm thanh rộn rã của tiếng chiêng, tiếng trống, tiếng sáo (trong các tiết mục Bật cờ, múa Lân, múa Tứ linh). Những làn điệu, khúc nhạc chèo khi vui tươi rộn rã (trong các tiết mục Xẩm xoan, Tứ quý, Lưu thuỷ, Sắp qua cầu, Sắp cổ phong), lúc ngân nga da diết (như các điệu Vỉa, ngâm Sổng)…tạo nên hiệu ứng bất giờ lôi cuốn người xem.
Rối nước làng Nội Rối là sự kết tinh óc sáng tạo, trí thông minh, tài khéo léo của người dân nơi đây qua bao đời. Xưa kia, rối nước của làng chiếm một vị trí độc tôn trong sinh hoạt văn hoá cộng đồng, được người dân Nội Rối tự hào gọi là trò "Ổi lỗi".
Tìm hiểu sâu hơn về về nghệ thuật múa rối nước ở Nội Rối, chúng tôi còn phát hiện thêm mộ số thông tin rất đáng chú ý. Đó là ở đình Chương Lương, thôn Chương (cùng xã Bắc Lý) hiện còn lưu giữ tượng chân dung “Đệ tứ thập bát Ổi Lỗi (tên cổ chỉ múa rối) Văn Chất tôn thần” và 18 đầu rối.
Trước kia làng Chương hàng năm có nhiều ngày tế lễ, trong đó ngày 15 tháng bảy âm lịch (tưởng niệm ngày hoá), ngày 12 tháng Tám âm lịch (kỷ niệm ngày sinh) của Thập bát quốc Ổi Lỗi tôn thần. Trong hai ngày này có nghi thức trình diễn 18 đầu rối kèm với bài ca chúc tụng. Tượng Thập bát Ổi Lỗi tôn thần Văn Chất được đặt trên ngai rước quanh làng. Sau đó đám rước trở lại đình làm lễ yên vị ngai thần với nghi thức trang trọng, dân làng xin phép rước 18 đầu rối, tức 18 trùm rối của 18 nước chư hầu của nhà Minh (theo thần phả) biểu diễn trước sự chứng kiến của Thành hoàng Văn Chất.
Trở lại với nguồn gốc của nghệ thuật múa rối nước của dân tộc, chứng cứ cổ nhất về loại hình nghệ thuật này là đoạn miêu tả trong văn bia Sùng Thiện Diên Linh (chùa Đọi Sơn): “Lòng sóng rung rinh. Rùa vàng nổi nên đội ba quả núi. Nước chảy nhịp nhàng rùa nở phô vẩy đẹp,chuyển động bốn chân và nhe răng, trợn mắt phun nước biểu diễn, điệu sáng sủa trên mặt nước tràn đầy. Động này, cửa nọ tranh nhau mở, xuất hiện nhiều thiên thần nhuần nhị, nét mặt thanh tân, há đâu phải vẻ đẹp dương thế.Tay mềm mại múa điệu hồi phong, mắt nhìn mây biếc và ca khúc vân hội.Chim phượng có sừng hợp nhau thành đôi. Tất cả đều múa phô diễn”.
Qua đoạn văn miêu tả trên thì thấy, múa rối nước thời Lý đã có được kỹ thuật tinh vi và đạt đến trình độ nghệ thuật cao, được đưa vào biểu diễn ở cung đình thì chắc chắn nó phải qua một thời gian hình thành và phát triển nơi thôn dã, là trò vui trong các hội hè, đình đám…
Văn bia còn nói rõ: Vua Lý Nhân Tông rất ưa thích loại hình nghệ thuật này và đích thân cho chế mô hình loại hình rối nước rùa vàng để thưởng thức cảnh thần tiên khi gặp lúc trung thu trời đẹp. Và một trong những điểm danh lam thắng cảnh để ông vui trò lúc nhàn rỗi là chùa Đọi Sơn. Vì vậy trong lễ hội chùa Đọi Sơn, trò múa rối nước là một phần tái hiện cảnh nước non thanh bình thời Lý, những ý tưởng nhân văn của Lý Nhân Tông và sinh hoạt văn hoá tinh thần của cư dân nơi đây thuở ấy.
Việc phát hiện, tìm hiểu về múa rối nước của làng Nội Rối và Chương Lương và qua các nguồn thư tịch cổ cho chúng ta có cái nhìn toàn diện hơn về nghệ thuật múa rối trên vùng đất Hà Nam xưa, Ninh Bình nay, đồng thời là cơ sở để cơ quan quản lý chuyên ngành và chính quyền địa phương trong thời gian tới có biện pháp khôi phục, bảo tồn, phát huy, tiến tới lập hồ sơ khoa học múa rối (múa rối nước và múa rối cạn) của tỉnh Ninh Bình và các tỉnh, thành: Hà Nội, Hưng Yên, Hải Phòng…đề nghị Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trình Chính phủ đề nghị UNESCO xem xét ghi danh vào danh sách di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại.
Tác giả: Đỗ Văn Hiến
Giám đốc Bảo tàng tỉnh Ninh Bình
.jpg)
_croped_393x250_on(30-06-2022_7695259).jpg)
.jpg)
.jpg)


.jpg)



.jpg)
