CHÀO MỪNG ĐẾN VỚI CỔNG THÔNG TIN BẢO TÀNG NINH BÌNH!

Sáu pho tượng Kim Cương chùa Đọi Sơn – Bảo vật quốc gia tiêu biểu của nghệ thuật điêu khắc thời Lý

Trên đỉnh núi Đọi, giữa vùng đất giàu truyền thống văn hóa, lịch sử, chùa Đọi Sơn là một trong những ngôi cổ tự nổi tiếng gắn với vương triều Lý và sự phát triển của Phật giáo Đại Việt. Tên chữ của chùa thời Lý là Diên Linh tự, về sau có tên Long Đọi Sơn tự. Năm 1054, dưới thời vua Lý Thánh Tông và Vương phi Ỷ Lan, chùa được mở mang xây dựng. Đến đời vua Lý Nhân Tông, chùa tiếp tục được mở rộng, đặc biệt là việc xây dựng bảo tháp Sùng Thiện Diên Linh từ năm 1118 đến năm 1121, đưa nơi đây trở thành một đại danh lam, đồng thời là một trung tâm Phật giáo quan trọng của Đại Việt. Trải qua hơn chín thế kỷ với nhiều biến động của lịch sử, bảo tháp Sùng Thiện Diên Linh không còn tồn tại, nhưng những giá trị còn lại của công trình vẫn được lưu giữ qua tấm bia Sùng Thiện Diên Linh, các dấu tích kiến trúc và nhiều di vật thời Lý. Đặc biệt, 06 pho tượng Kim Cương bằng đá nguyên khối còn lại tại chùa là những tác phẩm tiêu biểu của nghệ thuật điêu khắc Đại Việt đầu thế kỷ XII. Năm 2024, Sáu pho tượng Kim Cương chùa Đọi Sơn được Thủ tướng Chính phủ công nhận là Bảo vật quốc gia (đợt 13) theo Quyết định số 1712/QĐ-TTg ngày 31/12/2024. Dấu tích còn lại của “Bát đại Kim Cương” Theo các nguồn tư liệu, 06 pho tượng Kim Cương chùa Đọi Sơn là phần còn lại của bộ “Bát đại Kim Cương”. Theo học thuyết Phật giáo, Kim Cương gồm 8 vị, là những thần tướng nhà trời hộ vệ Đức Phật, gọi là Bát vị Kim Cương. Trong các di tích thời Lý, tượng Kim Cương ở đây còn nhiều và hoàn chỉnh nhất. Ban đầu, tám pho tượng được bố trí thành bốn cặp tại bốn cửa của bảo tháp Sùng Thiện Diên Linh, với ý nghĩa trấn giữ các phương, bảo hộ Phật pháp. Văn bia Sùng Thiện Diên Linh dựng năm 1121 đã mô tả vị trí của các pho tượng: “Tầng dưới chia tám tướng khôi ngô; đứng hộ vệ có thần nhân cầm kiếm”. Đây là tư liệu đặc biệt quan trọng giúp hình dung cấu trúc và diện mạo của bảo tháp Sùng Thiện Diên Linh khi xưa. Mỗi pho tượng được tạc nổi theo kiểu phù điêu trên một khối đá hình chữ nhật, dáng đứng thẳng, hai chân dạng ra theo thế vững chãi của một võ tướng. Tượng có kích thước cao gần bằng người thật (khoảng 160-163 cm), đứng trong tư thế uy nghiêm, hai tay đặt trên chuôi kiếm chống trước bụng. Đầu đội mũ trụ, thân mặc kim giáp, chân đi hia cao cổ, dáng dấp như một vị võ quan nhưng khuôn mặt thể hiện vẻ đôn hậu, trầm tĩnh, không dữ tợn như võ tướng trong các di tích giai đoạn sau. Chính sự kết hợp giữa vẻ uy nghiêm của một vị thần tướng với nét mềm mại, thanh thoát trong đường nét tạo hình đã làm nên diện mạo rất riêng của tượng Kim Cương chùa Đọi Sơn. Nhìn tổng thể, các pho tượng có bố cục cân đối, các bộ phận đầu, vai, thân, tay, chân được tạo hình hài hòa, gần với tỷ lệ cơ thể con người. Khuôn mặt tròn, thon dần về phía cằm; mắt nhìn xuống, mày cong, mũi lớn, môi dày. Mũ trụ ôm sát đầu, phần chỏm tròn, các đường gờ và hoa văn xoắn được chạm khắc tinh tế. Trên thân tượng còn được trang trí những bông hoa nhỏ nhiều cánh thường gặp trong mô típ hoa văn thời Lý. Bộ giáp bó sát thân gồm nhiều lớp, trên ngực, vai và bắp tay trang trí hình hổ phù; trước bụng là dải yếm hình chiếc khánh. Những bông hoa cúc nhiều cánh cùng các dải tua, hạt tròn và hoa văn trang trí được bố trí hài hòa trên giáp phục, tạo nên cảm giác vừa chắc khỏe vừa mềm mại. Đặc biệt, phần trụ đá phía sau mỗi pho tượng cũng được các nghệ nhân chăm chút. Trụ có dạng hình chữ nhật, chạm nổi hoa cúc dây với những bông cúc nhiều cánh được thể hiện ở nhiều góc nhìn khác nhau. Xen giữa các bông hoa là những mô típ hình tròn, trong đó có hình em bé đang nhào lộn – một chi tiết sinh động cho thấy sự phong phú trong tư duy tạo hình và óc sáng tạo của nghệ nhân thời Lý. Vẻ đẹp đặc sắc của nghệ thuật điêu khắc thời Lý Điều làm nên giá trị nổi bật của 06 pho tượng Kim Cương không chỉ nằm ở tuổi đời hơn 900 năm, mà còn ở nghệ thuật tạo hình đạt trình độ cao. Những pho tượng mang dáng dấp võ quan nhưng không biểu hiện các thế võ mạnh mẽ; cơ thể ở trạng thái thư thái, cơ bắp không căng cứng, hai tay chống kiếm trước bụng. Dáng đứng nghiêm trang, khuôn mặt đôn hậu tạo nên một vẻ đẹp vừa oai nghiêm, vừa gần gũi. Các nghệ nhân xưa đã xử lý khối đá một cách tài tình. Những đường nét chạm khắc mềm mại nhưng khỏe khoắn; các chi tiết trên mũ, giáp phục, đai lưng, hoa văn và trụ đá phía sau đều được thể hiện công phu. Đặc biệt, hệ thống hoa cúc dây xuất hiện trên giáp phục và trụ đá là một trong những dấu ấn rõ nét của mỹ thuật thời Lý. Hoa văn không chỉ có giá trị trang trí mà còn góp phần tạo nhịp điệu cho toàn bộ tác phẩm, khiến những khối đá tưởng như cứng nặng trở nên thanh thoát, sinh động. Sự độc đáo còn thể hiện ở chân dung của các pho tượng. Trong số những tượng Kim Cương thời Lý còn được biết đến hiện nay, 06 pho tượng chùa Đọi Sơn có hình thức rất riêng, không trùng lặp với các pho tượng Kim Cương còn lại. Mỗi pho tượng vì thế vừa nằm trong một chỉnh thể thống nhất, vừa mang giá trị như một tác phẩm nghệ thuật độc lập. Từ hình dáng, trang phục đến các mô típ hoa văn, bộ tượng cung cấp nguồn tư liệu quý cho việc nghiên cứu nghệ thuật tạo hình, kỹ thuật điêu khắc đá và trang phục của người Việt dưới triều Lý. Giá trị lịch sử, văn hóa và tôn giáo Sáu pho tượng Kim Cương là những chứng nhân đặc biệt của một giai đoạn phát triển rực rỡ của vương triều Lý và Phật giáo Đại Việt. Sáu pho tượng vốn là một bộ phận cấu thành của bảo tháp Sùng Thiện Diên Linh – một công trình Phật giáo quy mô lớn được xây dựng dưới thời vua Lý Nhân Tông. Bia Sùng Thiện Diên Linh cho biết bảo tháp có tới 13 tầng, 40 cửa và được trang trí bằng nhiều hình tượng, hoa văn, linh vật. Trong tổng thể kiến trúc ấy, các vị Kim Cương giữ vai trò hộ vệ ở tầng dưới, tạo nên sự hài hòa giữa kiến trúc, điêu khắc và tư tưởng tôn giáo. Qua 06 pho tượng, có thể hình dung phần nào quan niệm của người xưa về sức mạnh bảo hộ Phật pháp. Những vị thần tướng cầm kiếm đứng nghiêm trang trước cửa tháp không chỉ mang ý nghĩa trang trí kiến trúc mà còn thể hiện niềm tin tôn giáo, tư tưởng hướng thiện và khát vọng bảo vệ những giá trị thiêng liêng của cộng đồng. Bộ tượng đồng thời phản ánh trình độ phát triển của xã hội Đại Việt đầu thế kỷ XII. Từ cách tạo hình khuôn mặt, kiểu mũ, giáp phục, hia, đai lưng cho đến các mô típ trang trí, 06 pho tượng đem lại nhiều thông tin quý giá về đời sống vật chất, nghệ thuật thủ công và quan niệm thẩm mỹ đương thời. Những yếu tố giao thoa văn hóa được thể hiện qua hình thức và hoa văn trên tượng cũng góp phần cho thấy sự tiếp biến và sáng tạo của văn hóa Đại Việt trong mối quan hệ với các nền văn hóa lớn trong khu vực. Bảo vật quốc gia – giá trị trường tồn của di sản Điều đáng quý là dù bảo tháp Sùng Thiện Diên Linh đã bị hủy hoại qua chiến tranh và biến động lịch sử, 06 pho tượng Kim Cương vẫn được nhân dân gìn giữ qua nhiều thế hệ. Trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, một số hạng mục của chùa bị tháo dỡ, những pho tượng phải đặt ngoài trời. Đến năm 1957–1958, nhân dân địa phương góp công sức dựng lại các hạng mục của chùa và bố trí nơi bảo quản 06 pho tượng Kim Cương. Ngày nay, 06 pho tượng vẫn lưu dấu những tác động của chiến tranh và thiên tai, song cơ bản còn đủ cơ sở để nhận diện hình dáng, phong cách và giá trị nghệ thuật. Cùng với bia Sùng Thiện Diên Linh – một Bảo vật quốc gia đã được công nhận từ trước – bộ tượng góp phần làm nên hệ thống di sản đặc biệt của chùa Đọi Sơn. Chùa Đọi Sơn đã được xếp hạng Di tích quốc gia đặc biệt, khẳng định vị trí quan trọng của di tích trong hệ thống di sản văn hóa Việt Nam. Việc 06 pho tượng Kim Cương được công nhận là Bảo vật quốc gia năm 2024 là sự ghi nhận xứng đáng đối với giá trị đặc biệt của bộ tượng. Đây không chỉ là những tác phẩm điêu khắc đá cổ quý hiếm, độc đáo và hoàn chỉnh nhất trong số các tượng Kim Cương còn lại trong ngôi chùa thời Lý ở nước ta hiện nay, mà còn là những nguồn sử liệu minh chứng về một thời kỳ phát triển rực rỡ của Đại Việt, về mỹ thuật, tôn giáo, trang phục cổ và tài năng sáng tạo của các nghệ nhân cách đây hơn chín thế kỷ. Trải qua hơn 900 năm, 06 pho tượng Kim Cương chùa Đọi Sơn vẫn hiện diện như những người lính canh của thời gian. Từ những vị thần tướng đứng hộ vệ dưới chân Bảo tháp Sùng Thiện Diên Linh năm xưa đến những bảo vật được trân trọng gìn giữ hôm nay, mỗi đường nét trên thân tượng đều góp phần kể lại câu chuyện về lịch sử, văn hóa, tôn giáo và nghệ thuật chạm khắc của Đại Việt thời Lý. Sáu pho tượng Kim Cương vì thế không chỉ có giá trị đối với chùa Đọi Sơn hay vùng đất Ninh Bình, mà còn là di sản quý giá của dân tộc. Việc bảo tồn, nghiên cứu và phát huy giá trị bộ tượng chính là góp phần gìn giữ những thành tựu đặc sắc của nền văn hóa Đại Việt, để những giá trị được hun đúc từ hơn chín thế kỷ trước tiếp tục được nhận diện, trân trọng và lan tỏa đến các thế hệ hôm nay và mai sau.

Bảo vật Quốc gia: Long sàng trước Nghi môn ngoại đền thờ vua Đinh Tiên Hoàng, Khu di tích Quốc gia đặc biệt Cố đô Hoa Lư.

Nằm trong quần thể Khu di tích Quốc gia đặc biệt Cố đô Hoa Lư (Phường Tây Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình) – kinh đô đầu tiên của nhà nước phong kiến tập quyền Việt Nam thế kỷ X, đền thờ Đinh Tiên Hoàng không chỉ là một không gian linh thiêng gắn với lịch sử dựng nước và giữ nước, mà còn là nơi lưu giữ nhiều di sản quý giá phản ánh chiều sâu văn hóa, tư tưởng và nghệ thuật dân tộc. Trong số đó, Long sàng trước Nghi môn ngoại nổi bật như một dấu ấn đặc biệt, vừa mang ý nghĩa biểu tượng quyền lực, vừa là một kiệt tác điêu khắc độc đáo. Hiện vật đã được công nhận là Bảo vật quốc gia theo Quyết định số 2090/QĐ-TTg ngày 25/12/2017 của Thủ tướng Chính phủ. Long sàng là hiện vật độc bản do triều đình thời Lê - Trịnh tạo tác, làm đồ tế khí tại đền thờ vua Đinh Tiên Hoàng từ đầu thế kỷ XVII và vẫn được bảo tồn gần như nguyên vẹn cho đến ngày nay. Hiện vật được chế tác từ một khối đá xanh có dạng hình hộp chữ nhật, nặng khoảng 1,5 tấn. Mặt sập hình chữ nhật, rộng 127 cm, dài 187 cm; chân đế rộng 134 cm, dài 196 cm, hơi choãi tạo dáng chân quỳ vững chãi. Ngay giữa Long sàng được trang trí hình rồng cuộn mang đầy đủ các nét đặc trưng của rồng thời Lê – Trịnh, thân uốn kiểu yên ngựa, đầu to, bờm lớn ngược ra phía sau, miệng há to ngậm viên châu, răng nanh sắc nhọn, sừng hai chạc, đuôi rồng vuốt về phía sau rất uy nghi. Trong không gian thờ cúng của người Việt thường xuất hiện nhiều sập đá với bề mặt trơn, phẳng, duy nhất chỉ có sập đá trước Nghi môn ngoại và trước Bái đường đền thờ vua Đinh Tiên Hoàng có trang trí hoa văn rồng cuộn trên mặt sập thể hiện sự uy quyền của bậc đế vương. Điểm nhấn hết sức đặc sắc của Long sàng là những chi tiết điêu khắc trên đó được nhân hóa rất lạ. Cả bốn chi của rồng thay vì tạo hình chân móng vuốt chim ưng như truyền thống lại đang mang dáng hình cánh tay người nhỏ nhắn, thon dài, nữ tính. Hai bàn tay ở vị trí chi trước nắm chặt sừng và bờm rồng; ở vị trí chi sau, một cánh tay thon mềm vít râu rồng, tay còn lại xòe ngón đạp chơi vơi trong khoảng không. Thân rồng đang vặn mình, ngửa bụng lên trời. Cách tạo tác chi rồng trên Long sàng thành cánh tay, bàn tay vũ nữ mềm mại hay rồng ngửa bụng được đánh giá là hiếm có trong lịch sử mỹ thuật truyền thống Việt Nam, thể hiện sự tài tình, khéo léo và phá cách mạnh mẽ trong trí tưởng tượng của nghệ nhân điêu khắc xưa. Bên cạnh đó, Long sàng còn gây ấn tượng bởi sự xuất hiện của hình tượng sư tử được chạm khắc rất sắc nét giữa hai chi sau của rồng. Không giống các đồ án trang trí sư tử cách điệu thành linh vật trong mỹ thuật truyền thống Việt Nam và phương Đông, sư tử trên long sàng trước Nghi môn ngoại được chạm khắc chân thực, đúng với hình ảnh sư tử ngoài đời thực: bờm dày, ức nở, bụng thon, dáng vẻ uy phong nhưng không hung tợn, chân trước giơ lên như muốn đỡ lấy chân rồng. Nhiều nghiên cứu về mỹ thuật truyền thống cho thấy, đồ án trang trí hình sư tử theo kiểu thức như trên bề mặt long sàng trước Nghi môn ngoại đền thờ vua Đinh Tiên Hoàng là đầu tiên và duy nhất ở Việt Nam cho đến nay. Ngoài ra, bốn chân của Long sàng được tạo tác với đồ án quỷ Dạ xoa dữ tợn. Sự hiện diện của các ác quỷ trên ngai bệ thể hiện sự thần bí, thiêng liêng và mang ý nghĩa nhắc nhở người ta về địa vị, quyền lực của hình tượng được biểu đạt. Trải qua nhiều biến động của lịch sử, đặc biệt là những năm tháng chiến tranh khốc liệt, Long sàng vẫn được bảo tồn khá nguyên vẹn, trở thành minh chứng sống động cho giá trị bền vững của di sản văn hóa dân tộc. Không chỉ là một hiện vật thờ tự đơn thuần, Long sàng còn là kết tinh của tài năng, óc sáng tạo và quan niệm thẩm mỹ của người Việt ở thế kỷ XVII. Từng đường nét chạm khắc tinh xảo trên hiện vật không chỉ phản ánh trình độ kỹ thuật điêu luyện mà còn thể hiện sự giao thoa, tiếp biến văn hóa giữa Việt Nam với Trung Hoa và Ấn Độ. Có thể khẳng định rằng, Long sàng trước Nghi môn ngoại đền thờ Vua Đinh Tiên Hoàng là một trong những tác phẩm tiêu biểu và độc đáo của nghệ thuật điêu khắc đá Việt Nam. Với giá trị lịch sử, văn hóa và mỹ thuật đặc sắc, hiện vật không chỉ góp phần làm phong phú thêm diện mạo của di sản Cố đô Hoa Lư mà còn giúp thế hệ hôm nay và mai sau hiểu rõ hơn về chiều sâu văn hóa, tinh thần sáng tạo của dân tộc Việt Nam trong dòng chảy lịch sử.

Bộ Phủ Việt tại đền thờ vua Đinh Tiên Hoàng

Bộ Phủ Việt (Số đăng ký: BVQG.NB.004), hiện lưu giữ tại đang được lưu tại đền thờ Vua Đinh Tiên Hoàng, Phường Tây Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, được công nhận là Bảo vật quốc gia tại Quyết định số 88/QĐ-TTg ngày 15/01/2020 của Thủ tướng Chính phủ. Theo Các văn bia còn lưu giữ tại di tích cho thấy, đền thờ Vua Đinh Tiên Hoàng trải qua nhiều lần trùng tu vào thời Hậu Lê và Nguyễn, trong đó có 02 lần trùng tu lớn vào thời Lê Trung Hưng, thế kỷ XVII. Tấm bia Tiền triền Đinh Tiên Hoàng Đế miếu công đức bi ký, lập năm Thiệu Trị thứ 3 (1843) ghi lại khoảng cuối những năm Quang Hưng đến đầu những năm Vĩnh Trị thời Hậu Lê đền được xây dựng lại, quay hướng đông. Tấm bia Tiền triền Đinh Tiên Hoàng Đế miếu công đức bi ký tịnh minh lập năm Mậu Thân – Hoằng Định thứ 9 (1608) cho biết chúa Trịnh Tùng đã sai Quận công Bùi Thời Trung trùng tu đền. Đến năm Bính Thìn - Vĩnh Trị thứ nhất (1676) trùng tu lớn cả hai đền thờ Vua Đinh và Vua Lê. Cuối thế kỷ XVII, năm Bình Tý niên hiệu Chính Hòa 17 (1696) đền được trùng tu một lần nữa, sự việc được ghi lại tại văn bia Tiền triều Đinh Tiên Hoàng đế công đức tăng tu điện miếu bi ký. Cũng theo nội dung bia này cho thấy việc trùng tu đền thờ Vua Đinh Tiên Hoàng, tạo tác và đặt đồ tế khí trong không gian thờ cúng tại đền Vua Đinh Tiên Hoàng là việc làm của nhân dân để tưởng nhớ Đinh Tiên Hoàng đế. Vì vậy, có thể khẳng định: Phủ Việt tại đền thờ Vua Đinh Tiên Hoàng được tạo tác trong giai đoạn trùng tu (1608 -1696). Bộ Phủ Việt được làm bằng gỗ sơn son thếp vàng, gồm 02 cái, đặt đối xứng nhau hai bên nhang án ở tòa bái đường đền thờ Vua Đinh Tiên Hoàng. Phủ Việt bên trái dài tổng thể 300cm, dày 07cm, gồm 3phần: Phần đầu (dài 115cm, rộng 81cm), cán (dài 185cm, chu vi cán 25cm) và phần lưỡi (rộng 29 cm, chu vi lưỡi 31 cm); Phủ Việt bên phải dài tổng thể 299cm, dày 07 cm, gồm 3phần: Phần đầu (dài 118cm, rộng 81,5cm), cán (dài 181cm, chu vi cán 25cm), lưỡi (rộng 29 cm, chu vi lưỡi 30 cm); Mỗi bên nặng 45kg. Phủ Việt đền Vua Đinh Tiên Hoàng được chế tác dựa trên hình ảnh chiếc rùi chiến kết hợp đinh ba, là một trong những binh khí làm đồ chấp kích - lỗ bộ trong hệ thống đồ tế khí tại đền thờ các vị anh hùng dân tộc, trở thành vật thiêng trong không gian thờ cúng của người Việt. Phủ Việt ở đền thờ Vua Đinh Tiên Hoàng được trang trí tinh xảo và cầu ký, cách điệu khác xa với hình thức thực tế, trở thành một tác phẩm điêu khắc độc đáo. Bộ Phủ Việt có niên đại thế kỷ XVII, còn khá nguyên vẹn, bao gồm 03 phần: Phần đầu, phần lưỡi và phần cán. Phần đầu được tạo thành từ một con rồng lớn và năm con rồng con, tạo thành một ổ rồng. Rồng mẹ thân uốn thành 09 khúc. Năm rồng con xoắn xuýt uốn lượn, ẩn hiện trong những đao lửa của rồng mẹ. Những rồng con có thân nhào xuống dưới, đuôi ngược lên phía trên giống như rồng mẹ. Phần lưỡi được tạo thành từ một quầng lửa phun ra từ miệng rồng lớn, mang hình dáng như một lưỡi rìu, sơn son. Phần thân có tiết diện bát giác, kích thước rất lớn, một tay không thể nắm hết (Các Phủ Việt hiện có ở Việt Nam phần thân thường có thiết diện hình tròn). Các họa tiết hoa văn đao mác, sóng nước, đao phủ trên Phủ Việt đền thờ Vua Đinh Tiên Hoàng là hoa văn đặc trưng của nghệ thuật điêu khác thế kỷ XVII. Phủ Việt đền thờ Vua Đinh Tiên Hoàng là hiện vật gốc, độc bản, mang giá trị đặc biệt của giai đoạn đỉnh cao của nghệ thuật điêu khác gỗ dân gian Việt Nam thế kỷ XVII với những đường nét trạm nổi, trạm thông phong tỉ mỉ, tinh tế, tạo nên những đường cong uyển chuyển, thanh thoát cùng với kỹ thuật sơn son thếp vàng đạt tới đỉnh cao nên đã trải qua trên 400 năm vẫn giữ được màu sắc như xưa. Phủ Việt của Việt Nam nói chung, Phủ Việt thờ ở đền Vua Đinh Tiên Hoàng nói riêng có những đặc điểm riêng biệt hết sức rõ ràng, từ kỹ thuật chạm khắc sơn bó, sơn son thếp vàng đến ý nghĩa biểu tượng trong đời sống xã hội, phản ánh về một nền văn hóa tâm linh đặc sắc của người Việt Nam, không chỉ là biểu hiện cho thần quyền mà còn thể hiện ý thức về cội nguồn dân tộc. Trải qua thời gian, các hiện vật khác trong bộ chấp kích chế tác trong giai đoạn này bị hư hỏng, thất lạc, hiện chỉ còn lưu giữ nguyên vẹn bộ Phủ Việt và bộ quả chùy bị sứt mẻ nhiều hoa văn họa tiết. Phủ Việt cùng với các hiện vật khác trong bộ chấp kích ( đã được phục chế) bài trí trong không gian thờ cúng hiện nay đã góp phần tạo nên sự uy nghiêm trong không gian thờ cúng ở đền thờ Vua Đinh Tiên Hoàng. Phủ Việt ở đền thờ Vua Đinh Tiên Hoàng là tác phẩm nghệ thuật điêu khắc gỗ độc đáo thể hiện tài năng của người sáng tạo và bàn tay khéo léo của nghệ nhân thế kỷ XVII. Các họa tiết hoa văn và sự cách điệu một loại vũ khí thành một tác phẩm điêu khắc gỗ với đề án rồng ổ mang hàm nghĩa về sức mạnh dân tộc, về tinh thần đoàn kết và khát vọng hòa bình, khát vọng tự do của dân tộc Việt Nam. Với những giá trị độc đáo và nổi bật, Phủ Việt tại đền thờ Vua Đinh Tiên Hoàng là một tài liệu vật chất quan trọng để nghiên cứu văn hóa, nghệ thuật thế kỷ XVII ở nước ta. Bộ Phủ Việt tại Đền thờ Vua Đinh Tiên Hoàng là hiện vật gốc độc bản, tiêu biểu cho nghệ thuật điêu khắc gỗ dân gian Việt Nam thế kỷ XVII. Với giá trị nổi bật về lịch sử, nghệ thuật và văn hóa, hiện vật không chỉ phản ánh trình độ chế tác tinh xảo của các nghệ nhân xưa mà còn thể hiện truyền thống tôn vinh và tri ân Đinh Tiên Hoàng – vị vua có công thống nhất đất nước, lập nên nhà nước Đại Cồ Việt. Việc được công nhận là Bảo vật quốc gia càng khẳng định giá trị đặc biệt của hiện vật trong kho tàng di sản văn hóa dân tộc.

Giá trị độc đáo của bảo vật quốc gia “Sách đồng Khâm ban của vua Lê Thánh Tông”

Sách đồng Khâm ban của vua Lê Thánh Tông hiện đang lưu giữ tại Đình Cầu Không, xã Bắc Lý, tỉnh Ninh Bình. Sách có 2 tờ, 4 trang, chất liệu đồng đỏ. Trải qua thời gian sách đã ngả màu rêu xám; kích thước bằng nhau, dài: 45cm, rộng: 18,5cm, dày: 0,5cm. Trên 4 trang của sách được khắc các dòng chữ Hán đẹp và sắc nét. Tổng cộng 528 chữ, trong đó có 526 chữ Hán và 2 chữ Nôm. Sách đồng Khâm ban của vua Lê Thánh Tông là hiện vật gốc, độc bản, hiện trạng còn nguyên vẹn. Ở trang 2 và 3 khắc bài chính văn “Cầu Không từ ký" (bài ký Cầu Không). Tên của bài ký gắn liền với tên địa danh Cầu Không. Niên đại sách được đúc, khắc và hoàn thành vào ngày 6 tháng 3, năm thứ ba niên hiệu Hồng Đức (1472). Đây là cuốn sách đồng cổ nhất trong số các cuốn sách đồng đã được phát hiện trên cả nước. Sách đồng Khâm ban của vua Lê Thánh Tông là hiện vật có hình thức độc đáo bởi sách không sử dụng các nguyên liệu phổ biến, thông dụng như giấy, vải… để viết mà lấy kim loại quý làm “giấy” viết sách. Nội dung cuốn sách gồm bốn phần: Phần thứ nhất được xem như là lời chiếu của vua. Phần này, vừa thể hiện sự nhún nhường, vừa vạch rõ mưu đồ hiếu chiến của quân Chiêm Thành, dẫn đến sự trừng phạt là tất yếu. Phần thứ hai ghi ngày, tháng và năm vua Lê Thánh Tông thân chinh đi đánh giặc Chiêm Thành. Phần này như một bản thần tích thu gọn: Có vị Dực vận linh thần xin được theo vua để ngầm giúp đỡ. Từ đó đã vượt qua mọi sự khó khăn, đánh thắng quân giặc. Phần thứ ba ghi lại quá trình dựng Cầu Không, trùng tu ngôi đền trên cầu vào năm 1471 và khẳng định với công lao to lớn của thần thì sẽ được tế thờ mãi mãi. Phần thứ tư ghi lại các điều lệ. Phần này có 3 điều. Tuy là bài ký ghi việc dựng Cầu Không và trùng tu ngôi đền trên cầu vào năm 1471 đời Lê Thánh Tông, nhưng ghi chép ở đây là có giá trị sử liệu, rất đáng quí, sách viết: “Vào ngày 6 tháng 11 năm Canh Dần (1470), trẫm thân xuất đại quân tiễu trừ Chiêm Thành. Đến ngày 8, thuyền rồng của trẫm mới dừng lại ở cửa Long Xuyên thuộc địa đầu huyện Nam Xang.” Từ nguồn tư liệu này, chúng ta biết được cụ thể hơn về ngày tháng và địa điểm dừng chân của vua Lê Thánh Tông trên đường đi đánh giặc Chiêm Thành. Đây còn là một bản thần tích chung cho 3 thôn của 3 xã khác nhau: thôn Quan Đoài xã Văn Xá, thôn Cửa Ngòi xã Tế Xuyên, thôn Kiều Không xã An Triền thờ vị Dực vận linh thần có công hạng nhất giúp vua Lê Thánh Tông đánh giặc Chiêm Thành thắng lợi. Kim sách chứa đựng một nguồn sử liệu vô cùng quý giá, cung cấp thêm tư liệu về sự kiện vua Lê Thánh Tông đích thân cầm quân chinh phạt Chiêm Thành, mở mang bờ cõi về phía Nam. Cũng như những lần trừng phạt Champa từ thời Tiền Lê (do Hoàng đế Lê Hoàn trực tiếp chỉ huy), sau đó là thời Lý (nhiều lần đích thân vua Lý và Thái úy Lý Thường Kiệt chỉ huy đều bằng đường biển), vua Lê Thánh Tông cũng chỉ huy đại quân đi bằng đường biển vào đánh Chiêm Thành. Điều đó cho ta thấy người Việt có truyền thống thủy chiến, hải quân mạnh. Cuốn sách còn cung cấp nhiều chi tiết về một cây cầu bắc qua sông Long Xuyên, gọi là Cầu Không, làm bằng gỗ, kiểu “Thượng gia hạ kiều” độc đáo. Trên cầu có đền thờ rất linh thiêng, đã từng tồn tại ở thế kỷ XV. Qua mô tả trên, ta có thể liên hệ đến Chùa Cầu (Nhật Bản) ở Hội An - xây chùa trên cầu. Hiện nay tên địa danh Cầu Không vẫn còn. So sánh những dòng miêu tả trong sách đồng và tư liệu ảnh cây Cầu Không chụp năm 1936 thì hoàn toàn trùng khớp nhau về kiểu dáng kiến trúc. Sách đồng Khâm ban của vua Lê Thánh Tông là hiện vật gốc, độc bản, là sách đồng cổ, quý hiếm, duy nhất có niên đại thời Lê Sơ cung cấp nhiều giá trị tư liệu để nghiên cứu về lịch sử, chữ viết, địa danh hành chính, kỹ thuật đúc, khắc đồng, tín ngưỡng dân gian… góp phần vào việc khẳng định sự phát triển của xã hội đương thời. Với những giá trị đặc biệt quý hiếm và độc đáo đó, Sách đồng Khâm ban của vua Lê Thánh Tông được Thủ tướng Chính phủ công nhận là Bảo vật quốc gia tại Quyết định số 236/QĐ-TTg, ngày 03 tháng 02 năm 2026. Tác giả: Lê Thị Khánh Ninh - Phó Trưởng phòng Kiểm kê - Bảo quản

Bảo vật Quốc gia: Bộ tranh khắc ma nhai 18 vị La Hán động Liên Hoa

Ẩn mình trong không gian huyền ảo của động Liên Hoa dưới chân núi Cô Phong, thuộc chùa Phong Phú, phường Tây Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, bộ tranh khắc ma nhai 18 vị La Hán đã tồn tại gần tám thế kỷ như một chứng tích quý giá của lịch sử và văn hóa dân tộc. Đây không chỉ là một tác phẩm nghệ thuật Phật giáo đặc sắc mà còn là di sản độc bản, phản ánh sinh động đời sống tín ngưỡng, tư tưởng và trình độ mỹ thuật của người Việt thời Trần. Trải qua những biến thiên của lịch sử, bộ tranh vẫn hiện diện trên vách đá động Liên Hoa, mang trong mình những giá trị nổi bật về lịch sử, văn hóa, nghệ thuật và tôn giáo. Các nhà nghiên cứu đánh giá đây là bộ tranh khắc ma nhai 18 vị La Hán duy nhất hiện được biết đến ở Việt Nam, đồng thời là tác phẩm mô tả các vị La Hán có niên đại sớm nhất còn được bảo tồn cho đến ngày nay. Kiệt tác nghệ thuật giữa lòng núi đá. Bộ tranh gồm 18 bức được khắc trực tiếp trên vách đá tự nhiên của động Liên Hoa. Mỗi bức thể hiện hình tượng một vị La Hán với thần thái, tư thế và cử chỉ riêng biệt. Có vị ngồi thiền định trên phiến đá, có vị tay cầm tích trượng, nâng tràng hạt hoặc trầm ngâm giữa không gian núi rừng thanh tĩnh. Dù được thể hiện trong những khuôn hình không lớn, các nghệ nhân xưa đã khắc họa thành công thế giới nội tâm phong phú của từng vị tôn giả bằng những đường nét tinh tế, giàu sức biểu cảm. Toàn bộ các bức tranh được bố trí cân đối trên hai vách đá của động, mỗi bên gồm chín bức, tạo nên một tổng thể hài hòa và trang nghiêm. Bao quanh các hình tượng là hệ thống khung viền trang trí hoa văn dây cuốn mềm mại; phía dưới là đài sen và bệ đỡ được chạm khắc công phu. Sự kết hợp hài hòa giữa nghệ thuật điêu khắc và không gian tự nhiên của hang động đã tạo nên một quần thể nghệ thuật độc đáo, mang đậm dấu ấn Phật giáo thời trung đại. Dấu ấn thời kỳ hưng thịnh của Phật giáo Đại Việt Các nghiên cứu cho thấy bộ tranh được tạo tác vào khoảng thế kỷ XIII, dưới triều Trần - giai đoạn Phật giáo phát triển rực rỡ trong lịch sử dân tộc. Căn cứ quan trọng để xác định niên đại là văn khắc ma nhai mang dòng chữ “Kiến Gia, Bính Ngọ niên” hiện còn lưu giữ tại động Liên Hoa. Nội dung văn khắc cho biết vào năm Bính Ngọ thời Trần, một vị thiền sư Nam tông đã đến núi Cô Phong tu hành, trùng hưng Bảo Phúc Nham và hoằng dương Phật pháp. Đây cũng là thời kỳ các vua Trần đặc biệt sùng kính đạo Phật, nhiều trung tâm Phật giáo lớn được hình thành và phát triển, trong đó vùng đất Ninh Bình giữ vị trí quan trọng. Sự xuất hiện của bộ tranh khắc ma nhai 18 vị La Hán tại động Liên Hoa là minh chứng sinh động cho đời sống tôn giáo phong phú của Đại Việt thời Trần, đồng thời phản ánh sự phát triển của nghệ thuật tạo hình Phật giáo Việt Nam trong giai đoạn cực thịnh. Chứng tích sớm về tín ngưỡng La Hán tại Việt Nam Trong Phật giáo, La Hán là những bậc đã đạt tới giác ngộ, giải thoát khỏi vòng sinh tử luân hồi và trở thành biểu tượng của trí tuệ, đức hạnh cùng sự tu tập viên mãn. Tín ngưỡng thờ La Hán được hình thành từ rất sớm tại các quốc gia chịu ảnh hưởng của Phật giáo Bắc truyền như Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên và Việt Nam. Điểm đặc biệt của bộ tranh động Liên Hoa là trên nhiều bức vẫn còn lưu giữ những dòng chữ Hán ghi tên gọi và nơi cư ngụ của các vị La Hán. Nội dung này tương ứng với ghi chép trong tác phẩm kinh điển “Đại A La Hán Nan Đề Mật Đa La sở thuyết pháp trụ ký”, một văn bản có ảnh hưởng sâu rộng đối với tín ngưỡng La Hán ở khu vực Đông Á. Theo các nhà nghiên cứu, đây là một trong những minh chứng sớm nhất hiện còn ở Việt Nam về sự tiếp nhận và phát triển của tín ngưỡng thờ La Hán trong Phật giáo. Đặc biệt, cách thể hiện danh xưng và trụ xứ của các vị La Hán tại động Liên Hoa mang những nét riêng biệt, phản ánh quá trình tiếp biến và sáng tạo văn hóa của người Việt. Hiện vật độc bản có giá trị đặc biệt Trong hệ thống di sản Phật giáo Việt Nam hiện nay, nhiều ngôi chùa còn lưu giữ tượng hoặc phù điêu 18 vị La Hán được tạo tác từ thế kỷ XVII - XVIII. Tuy nhiên, bộ tranh khắc ma nhai tại động Liên Hoa là trường hợp đặc biệt bởi được khắc trực tiếp trên vách đá tự nhiên và có niên đại sớm hơn nhiều hiện vật cùng đề tài hiện còn được biết đến. Không chỉ mang giá trị nghệ thuật đặc sắc, bộ tranh còn là nguồn sử liệu quý phục vụ nghiên cứu lịch sử mỹ thuật, lịch sử Phật giáo và quá trình giao lưu, tiếp biến văn hóa trong khu vực. Sau gần 800 năm tồn tại, mặc dù chịu tác động của thời gian và điều kiện tự nhiên, phần lớn các hình tượng vẫn được bảo tồn tương đối nguyên vẹn, thể hiện sức sống bền bỉ của di sản cũng như ý thức gìn giữ của nhiều thế hệ cư dân địa phương. Với những giá trị nổi bật về lịch sử, văn hóa, nghệ thuật và tính độc bản, tháng 2 năm 2026, Bộ tranh khắc ma nhai 18 vị La Hán động Liên Hoa đã được Thủ tướng Chính phủ công nhận là Bảo vật Quốc gia. Đây là sự ghi nhận xứng đáng đối với một di sản tiêu biểu của Việt Nam, góp phần khẳng định vị thế của Ninh Bình - vùng đất giàu truyền thống lịch sử, văn hóa và sở hữu nhiều di sản đặc sắc của dân tộc. Bộ tranh khắc ma nhai 18 vị La Hán động Liên Hoa không chỉ là niềm tự hào của địa phương mà còn là tài sản văn hóa vô giá của đất nước. Mỗi đường nét khắc trên vách đá là kết tinh của tài năng nghệ thuật, tư tưởng Phật giáo và khát vọng hướng thiện của cha ông từ nhiều thế kỷ trước. Việc bảo tồn, nghiên cứu và phát huy giá trị di sản sẽ góp phần gìn giữ những giá trị truyền thống quý báu, đồng thời tạo động lực cho phát triển văn hóa và du lịch bền vững trong giai đoạn hiện nay.

Bia chùa Giàu - Bảo vật quốc gia thời Trần trên đất Ninh Bình

Bia chùa Giàu (tên chữ Ngô gia thị bi) là một hiện vật đá cổ có giá trị đặc biệt về lịch sử, mỹ thuật và văn hóa, hiện được lưu giữ tại chùa Giàu (ngôi chùa cổ có tên chữ Khánh Long tự), thôn 2, xã Đinh Xá, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam (nay là phường Liêm Tuyền, tỉnh Ninh Bình). Tương truyền, chùa được mở mang xây dựng với quy mô rộng lớn vào thời Trần, trải qua các thời kỳ lịch sử, chùa được tu bổ, tôn tạo khang trang.Tấm bia đặt trong chùa,nên gọi là bia chùa Giàu.Bia được chế tác bằng đá xanh nguyên khối, kích thước cao 1,0 m, rộng 0,59 m, dày 0,12 m, trọng lượng khoảng 200 kg. Đây là tấm bia đá có niên đại thời Trần, được dựng năm Bính Ngọ, niên hiệu Đại Trị thứ 9 (1366) đời vua Trần Dụ Tông. Với nhiều giá trị độc đáovề tạo hình và nội dung văn bia, bia chùa Giàu được đánh giá là hiện vật tiêu biểu phản ánh đời sống tôn giáo, xã hội và nghệ thuật điêu khắc thời Trần. Giá trị về mặt điêu khắc Bia đá chùa Giàu được chạm khắc độc đáo ở cả 2 mặt: + Nghệ thuật chạm khắc ởmặt trước Trán bia hình vòng cung được phân chia làm 03 ô: Ô chính giữa tạo thành hình vuông, chạm nổi bốn chữ Hán大 偪通明, phiên âm: “Đại Phúc Thông Minh” (có nghĩa là: tôn quý có phúc lớn, sáng sủa, minh bạch), cũng có ý kiến khác phiên âm là “Lục Tổ Thông Minh”. Chữ khắc theo lối hành thảo thành hai hàng dọc, mỗi hàng hai chữ. Theo các nhà nghiên cứu, kiểu bố cục này phổ biến trên nhiều bia thời Lý và thời Trần. Ở hai ô bên gần hình tam giác, chạm khắc 2 hình rồng đối xứng, trong tư thế đầu rồng ngẩng cao, chầu vào ô chính giữa. Hình rồng ở tư thế uốn 11 khúc mềm mại, thân tròn lẳn, mập mạp, thu nhỏ dần về phía đuôi; đầu rồng có bờm mào dài, mũi cao, sừng chạc, miệng há ngậm ngọc, răng nanh sắc nhọn, mang đặc trưng phong cách rồng thời Trần. Chân rồng chạm khắc 5 móng sắc nhọn, chân trước đỡ lấy cằm nâng viên ngọc báu. Diềm bia chạm khắc mô - típ hoa dây uốn hình sin, chạy liên tiếptừ chân bia hướng lên 2 bên thành rồi lồng ngọn vào nhau ở đỉnh bia, trong mỗi khúc uốn lại trổ ra một bông hoa với nhiều tay xoắn móc toả về hai bên. Chân bia chạm khắc bẩy hình lá đề, xen kẽ phía trên là 6 hạt tròn nhọn đầu, bên trong mỗi lá đề có khắc hình sừng tê. Đầu nhọn lá đề hướng lên trên. Thân bia, chạm khắc nổi theo dạng bức phù điêu chân dung một vị Hoàng đế, đang ngồi trên ngai rồng, tư thế ngồi chính diện, có vòng hào quang trên đầu, tay ngai chạm đầu rồng. Ngai rồng đặt trên tòa đài sen, các cánh sen uốn cong đối xứng. Chân dung Hoàng đế được chạm khắc trên mặt bia thể hiện địa vị quyền quý rất cao của Đức Ngài trong xã hội: Trên đầu Đức Ngài đội mũ “bình thiên”, chính giữa mũ nổi hình tròn biểu trưng cho mặt trời, xung quanh hai bên là các chấm tròn nhỏ nối nhau bằng các đường thẳng biểu trưng các vì tinh tú. Khuôn mặt chân dung của Đức Ngài chạm khắc rất đầy đặn theo các nét quý tướng: mắt xếch, lông mày rậm, mũi thẳng nhô cao, có ria mép, dáng vẻ quắc thước, hai tai to chảy dài xuống, hai chân buông thẳng, mũi bàn chân quay về hai phía. Cổ Ngài đeo vòng có trang trí các chấm tròn, cứ một chấm tròn lại đến một dây tua có các chấm tròn, ngoài cùng của dây chấm tròn là hình kiểu “búp đa” hay “lá đề”. Trang phục của Hoàng đế thể hiện hai lớp áo: Lớp ngoài là áo khoác dài, tay áo thụng, rộng, dài che kín toàn bộ xuống đến chân, có các dải trang trí mềm mại. Chính giữa có ba dải chạy thẳng xuống tới chân, trong đó dải ở giữa có chữ “Vương” trong khung hình tròn, phía dưới là chữ “Á”, đuôi của các dải này vát hình chữ V, cũng có các tua dây với một chấm tròn và một chấm hình “búp đa”. Hai bên vạt áo có 2 hình chim đối xứng. Lớp áo bên trong là loại áo bó thân với kiểu cổ vát hình chữ V. Hai tay Hoàng đế cầm “hốt” chắp trước ngực. -Nghệ thuật chạm khắc ở mặt sau Khắc chữ Hán thể hiện nội dung tấm bia, nét chữ tự do, không đều, nhiều chữ đã bị mờ không đọc được. Phía ngoài cùng bên phải khắc tiêu đề “Ngô gia thị bi”(Văn bia họ Ngô). Phần chính văn của bia gồm 7 dòng, mỗi dòng 19 chữ, nội dung ghi về việc có một nhà sư hiệu “Viên tích đại sa môn” đã xin Phật tam thế cho phép mình từ am Đại Long chuyển về tiểu am thôn Mai và nhà sư đã mất tại đó vào năm Hưng Long thứ 13 (năm 1305) đời vua Trần Nhân Tông. Nhà sư họ Ngô, hiệu “Ngộ Không cư sĩ” thuộc bản am đã quyết định an táng nhà sư “Viên tích đại sa môn” và dựng nhà tại đây. Phần còn lại ghi chép họ và tên người cúng tiến ruộng ao cho chùa. Tấm bia là hiện vật gốc độc bản: Bia đá chùa Giàu là hiện vật gốc, độc bản, hiện trạng còn tương đối nguyên vẹn. Tấm bia được dựng tại chùa và gắn với lịch sử ngôi chùa. Bia được tạo hình bằng một tấm đá xanh, trang trí chạm khắc nổi và bài minh văn không trùng với bất kỳ tấm bia nào cùng thời. Là tấm bia cổ thời Trần duy nhất được phát hiện trên đất Hà Nam được khắc vào năm Bính Ngọ, niên hiệu Đại Trị 9 (năm 1366) đời vua Trần Dụ Tông. Tấm bia là hiện vật có hình thức độc đáo: Trên tổng thể tư liệu bia ký thời Trần, đây là tấm bia duy nhất được tạo tác mà trên đó chạm khắc nổi chân dung một vị Hoàng đế thời Trần, là một tác phẩm mỹ thuật độc đáo quý hiếm thời Trần ở Hà Nam nói riêng cũng như cả nước nói chung. Một số nhà nghiên cứu khảo cổ, mỹ thuật, căn cứ trên hình tượng điêu khắc trên bia như: ngai, mũ, trang phục...có đưa ra giả thiết đó là hình ảnh chân dung của Hoàng đế Trần Nhân Tông.Hoàng đế Trần Nhân Tông là Tổ của Thiền phái Trúc Lâm, tức Vua đã hoá Phật, hay là Phật tái thế, do đó bức chân dung chùa Giàu có tư thế và trang phục vua, có đài sen và hào quang của Phật là hoàn toàn phù hợp với chân dung vua Trần Nhân Tông. Đây là hình ảnh vua Việt Nam sớm nhất hiện nay được biết, là mẫu cho các tượng vua và Ngọc Hoàng được tạo dựng vào cuối thế kỷ XVI và đầu thế kỷ XVII. Bia chùa Giàu là hiện vật có giá trị đặc biệt về lịch sử, văn hóa, khoa học: Tấm bia chùa Giàu cung cấp nhiều nguồn tư liệu quý hiếm trên các phương diện: ký tự học, mỹ thuật học, địa lý học lịch sử. Tấm bia còn giúp cho việc tìm hiểu về lịch sử, tôn giáo, chữ viết thời Trần, đặc biệt là sự xuất hiện của chữ Nôm khắc trong văn bia. Ngoài ra, nội dung văn bia còn cho biết, chế độ sở hữu ruộng đất, đơn vị đo đường, vai trò của Đạo giáo và Phật giáo thời Trần, nguồn gốc các dòng họ, chức vụ quản lý cấp cơ sở (xã), phân bố dân cư giữa người Kinh và người thiểu số vào thời Trần ở nơi đây ... Về địa danh hành chính: Đây là tấm bia đầu tiên nhắc đến đơn vị hành chính “Lợi Nhân lộ”mà các tư liệu hiện biết đến nay không nhắc tớitrong hệ thống tổ chức hành chính nhà Trần. Lộ là đơn vị hành chính có thời Lý, sau khi giành được chính quyền, nhà Trần đã phân chia lại Đại Việt thành 12 lộ thay vì 24 lộ như ở thời Lý(5) tuy nhiên hoàn toàn không có tên lộ Lợi Nhân. Về chữ Nôm: Không kể những chữ mờ, mất văn bia còn ba chữ Nôm chỉ số 2, số 4 chữ Hán thay cho số 3. Hai chữ “Nguyệt” viết thiếu nét, 5 chữ “Bính” thay cho hướng Nam (dụng theo ngũ hành, thập can), điều này cho thấy có thể chữ “Nguyệt” và “ Nam” là không, húy của hoàng tộc nhà Trần thời kỳ đó. Về tôn giáo: Đề tài trang trí bia chùa Giàu thể hiện sự dung hòa, hòa hợp tôn giáo thời Trần, là minh chứng rõ nhất cho tư tưởng “Tam giáo đồng nguyên”. Toàn bộ nội dung văn bia nói đến việc xây dựng chùa, tuy nhiên, phần mỹ thuật được chạm khắc ở chân bia thể hiện tư tưởng của Đạo giáo, đó là hình ảnh các lá đề được chạm khắc trong đó có lồng vật biểu trưng của đạo giáo, đó là hình tượng các cặp sừng tê. Với những giá trị tiêu biểu và độc đáo đó, bia chùa Giàu đã được Thủ tướng Chính phủ quyết định công nhận là Bảo vật quốc giatại số 41/QĐ-TTg ngày 30/01/2023, trở thành di sản đặc biệt có ý nghĩa quan trọng trong việc nghiên cứu, bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa trên địa bàn tỉnh Ninh Bình cũng như trong kho tàng di sản văn hóa của Việt Nam.

Giá trị độc đáo của bảo vật quốc gia “Bàn thờ Phật bằng đá chùa Thượng Nương”

Bàn thờ Phật chùa Thượng Nương được lưu giữ tại chùa Thượng Nương, thôn Tam Tứ, xã Liêm Hà, tỉnh Ninh Bình. Bàn thờ có dáng hình khối chữ nhật được ghép từ các khối đá nhỏ, kích thước: dài: 2,96 m, rộng 1.04m, cao 1,13m, cấu trúc gồm ba phần chính là mặt, thân và chân bệ. Phần mặt phía trên tạo phẳng, chia làm hai phần: Thành bệ ở tầng trên chạm khắc hoa văn hoa cúc dây và tạc chuỗi ngọc châu (gồm 36 viên); Thành bệ ở tầng dưới, 4 góc phình ra phía trên, thót lại phía dưới và chạm nổi một dải cánh sen ngửa xếp thành hàng đều nhau. Đặc biệt, chính giữa dải cách sen này chạm nguyên một cách sen to nở tròn đầy, bên trong tạo nhiều lớp cánh uốn hình móc tròn chụm đầu khít vào nhau. Mặt bàn thời là nơi đặt tòa Cửu Long, bát hương đá khắc nổi 3 chữ Hán “Thượng Nương tự’ và đồ thờ tự. Phần thân phía trên thu nhỏ. Mặt trước tạo 3 ô hình chữ nhật: Ô chính giữa thân bệ trang trí đề tài hoa cúc - ba bông cúc lớn ở ba tư thế. Bông chính giữa rộ nở được diễn tả theo chiều nhìn hơi nghiêng. Bông bên trái chớm nở với các cánh xếp tròn hoặc xoáy tròn được diễn tả theo chiều thẳng chính diện. Bông bên phải nghiêng hẳn như đang hướng về phía mặt trời. Hai ô bên cạnh trang trí đôi rồng trong tư thế cuộn mình. Toàn bộ thân rồng uốn lượn mềm mại thành 13 khúc. Đầu rồng ngước lên, miệng há rộng, nhả một viên ngọc tròn với các quầng sáng. Rồng có bộ mào dài, sừng hai nhánh, tai to, mang 6 xoáy, chân bốn móng, thân có vẩy, vây lưng to thưa. Xung quanh thân rồng trang trí các quầng mây cuộn thể hiện sự tỉ mỉ, trau truốt trong từng đường nét chạm khắc. Mặt sau của thân bệ cũng được chia ba ô. Ô chính giữa trang trí hình rồng, toàn thân uốn 9 khúc, trong tư thế như đang đạp mây bay về phía trước. Hai ô bên của thân bệ trang trí hoa văn lá đề. Ô bên trái: giữa trung tâm của lá đề trang trí đồ án hươu trong tư thế nằm, mình thon, đầu ngoảnh quay về phía sau, miệng ngậm lá cây. Ô bên phải bố cục tương tự như ô bên trái: giữa trung tâm lá đề trang trí đồ án hình con hươu ở tư thế đứng, chân nhún nhẩy vui đùa trên các cụm mây tản. Bao quanh hươu vây kín những cụm vân mây dạng xoắn rất sinh động. Hình ảnh hươu xuất hiện trên bệ đá thời Trần là một hiện tượng hiếm, độc đáo. Mặt bên trái của thân bệ (nhìn từ ngoài vào) chạm khắc hình con sư tử đang tung mình vờn cầu. Bên cạnh đồ án hình sư sử có khắc minh văn gồm 43 chữ Hán, dịch nghĩa: “Ở ngõ Thượng Xảo, làng Sơn Khê, Thiên Kiện có 1 người đàn bà tên là Đinh Thị Muộn, tâm niệm rằng có 1 thửa ruộng tại động Anh Triệu, đã dùng 5 sào ruộng thí cho Văn Tuý Thủ (tay hay chữ) để thay thế tiền thù lao cho thợ tạc bệ đá”. Mặt bên phải của thân bệ có khắc niên đại, dịch nghĩa: “Tạo tác tháng 6 năm Giáp Thìn, niên hiệu Đại Trị năm thứ 7 - 1364”. Phần chân bệ hơi choãi ra, tạo thế thế đỡ vững chãi cho bệ thờ và được chia làm hai tầng trang trí. Tầng trên đế bệ được trang trí đa dạng các mô típ hơn tầng dưới: Mặt trước và hai mặt bên chạm nổi băng hoa văn hình chữ vạn gấp khúc trong hình thoi, xen kẽ là những bông hoa mai. Mặt sau được chạm khắc một băng hoa văn hoa cúc dây thanh mảnh chạy suốt chiều ngang của bệ đá. Tầng dưới, xung quanh chân bệ trang trí một dải cánh sen, đầu các cánh bên dưới đều cuộn lên rồi xoắn lại theo hình sóng nước. Bàn thờ Phật bằng đá chùa Thượng Nương là hiện vật gốc, độc bản, tiêu biểu của nghệ thuật điêu khắc Phật giáo thời Trần, mang nhiều giá trị đặc biệt trên các phương diện lịch sử, mỹ thuật và tôn giáo tín ngưỡng. Trước hết, bàn thờ Phật có giá trị lịch sử - niên đại tuyệt đối rõ ràng. Minh văn khắc trực tiếp trên thân bệ ghi rõ thời điểm tạo tác vào tháng 6 năm Giáp Thìn (1364) đời vua Trần Dụ Tông, giúp xác định chính xác niên đại, cung cấp tư liệu tin cậy cho việc nghiên cứu lịch sử mỹ thuật và Phật giáo thế kỷ XIV. Đây là bàn thờ Phật thời Trần có niên đại sớm nhất được phát hiện tại tỉnh Ninh Bình, Bàn thờ Phật có giá trị mỹ thuật đặc sắc và độc đáo. Bàn thờ được tạo hình chuẩn mực với cấu trúc ba phần (mặt - thân - chân) chặt chẽ, cân đối, thể hiện trình độ chế tác đá điêu luyện. Hệ thống hoa văn phong phú gồm rồng, lá đề, hoa cúc, hoa sen, sư tử, hươu, chữ vạn… được chạm khắc tinh xảo, bố cục hài hòa. Đặc biệt, nhiều mô típ lần đầu xuất hiện trên bệ thờ thời Trần như chuỗi ngọc minh châu nổi, chữ vạn gấp khúc trong hình thoi xen hoa mai, cúc dây dạng “tay mướp”, hình hươu trong lá đề… tạo nên giá trị nghệ thuật riêng biệt, hiếm thấy. Đây là tác phẩm thể hiện giá trị tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật thời Trần và sự kế thừa - sáng tạo. Hình tượng rồng vừa mang dáng khỏe khoắn của nghệ thuật Trần, vừa phảng phất nét mềm mại của rồng thời Lý, cho thấy sự chuyển tiếp phong cách. Bố cục đôi rồng chầu ba bông cúc thay vì chầu mặt nguyệt là một sáng tạo độc đáo, phản ánh tư duy thẩm mỹ riêng của nghệ nhân đương thời. Bàn thờ Phật còn mang giá trị tôn giáo - tín ngưỡng sâu sắc. Tổng thể bệ thờ được cách điệu như một đài sen - biểu tượng thiêng liêng của Phật giáo. Nội dung minh văn cùng hệ thống đồ án trang trí phản ánh rõ tư tưởng Phật giáo thời Trần và cho thấy vai trò của cộng đồng cư dân trong việc công đức, tạo dựng cơ sở thờ tự. Bên cạnh những giá trị lịch sử, văn hóa, thẩm mỹ bàn thờ Phật còn có giá trị tư liệu khoa học quan trọng. Minh văn ghi chép về địa danh, nhân vật công đức (Đinh Thị Muộn) ruộng hiến tặng và việc trả công thợ là nguồn sử liệu gốc quý hiếm để nghiên cứu lịch sử xã hội, kinh tế, hành chính và sinh hoạt tín ngưỡng địa phương thế kỷ XIV. Như vậy, với tính độc bản, nguyên vẹn, quý hiếm và tiêu biểu, bàn thờ Phật chùa Thượng Nương không chỉ phản ánh đỉnh cao nghệ thuật điêu khắc đá thời Trần mà còn góp phần khẳng định sự phát triển rực rỡ của văn hóa Đại Việt thế kỷ XIV. Với những giá trị đặc biệt quý hiếm đó, Bàn thờ Phật chùa Thượng Nương đã được Thủ tướng Chính phủ công nhận là Bảo vật quốc gia tại quyết định số 236/QĐ-TTg ngày 03 tháng 02 năm 2026.

15

Năm thành lập

872

Tư liệu trưng bày

7625

Lượt truy cập