CHÀO MỪNG ĐẾN VỚI CỔNG THÔNG TIN BẢO TÀNG NINH BÌNH!

Bảo tồn và phát huy giá trị nghệ thuật “Ổi lỗi” chùa Đại Bi, xã Nam Trực, tỉnh Ninh Bình

  02:27 PM 09/02/2026        41

Chùa Đại Bi được xây dựng trên đất Chân Đàm, huyện Nam Chân thuộc trấn Sơn Nam hạ xưa, nay là xã Nam Trực, tỉnh Ninh Bình. Chùa được xây vào đời Lý Nhân Tông (1072), theo kiểu nội công ngoại quốc. Cùng với thăng trầm của lịch sử, chùa đã nhiều lần tu sửa và lần cuối cùng trùng tu vào niên hiệu Thành Thái, triều Nguyễn. Theo thần phả tại chùa thì ngoài thờ phật, chùa còn thờ Thiền sư Từ Đạo Hạnh - một trong tam vị Thánh Tổ đạo phật ở Việt Nam đầu thế kỷ XI.

Hiện nay chùa còn bảo lưu được nhiều di sản văn hoá cổ, quý hiếm, trong đó có bộ đầu rối bằng gỗ. Theo truyền thuyết của người dân địa phương thì Thiền sư họ Từ đã làm ra 6 đầu rối gỗ, dạy cho dân ba thôn: Vân Chàng, Giáp Ba, Giáp Tư cách múa, hát để làm cho cuộc sống thêm vui tươi. Sau khi thiền sư rời khỏi chùa Đại Bi đến đất Sài Sơn ( Hà Nội) dựng chùa Thầy và tu hành ở đó. Nhân dân ba thôn nhớ công ơn của Thiền sư nên đã dùng gỗ làm ra 6 đầu rối to cùng các bài ca, điệu vũ để múa hát phục vụ cho nhu cầu tâm linh tín ngưỡng mà người dân ở địa phương gọi là nghệ thuật “ổi lỗi”. Sau này nhân dân địa phương đã sáng tạo thêm 6 đầu rối nhỏ và như thế hát rối đầu gỗ chùa Bi đã trở thành món ăn tinh thần của cư dân nơi đây.

Nghệ thuật “ổi lỗi” (hay còn gọi là nghệ thuật hát rối đầu gỗ chùa Bi) là loại hình nghệ thuật diễn xướng theo phong tục tín ngưỡng tâm linh từ xa xưa truyền lại, có giá trị độc đáo. Sự độc đáo của loại hình nghệ thuật này là duy trì hoạt động bởi một tổ chức hay còn gọi là Hội rối, gồm trên dưới 50 người, giới hạn trong ba thôn: Vân Chàng, Giáp Ba, Giáp Tư theo tính chất cha truyền con nối, có thể là cháu nội, ngoại. Người đã tham gia vào Hội rối thì gắn bó với Hội đến khi chết, không được ra. Điều đặc biệt của Hội rối này là tính tâm linh rất cao. Những ai chưa sinh con trai, khi vào Hội rối sinh con trai; Khi hát múa không được làm rơi tượng thánh nếu không trong gia đình sẽ có tang hoặc tai nạn, tuyệt đối không được làm sai các thủ tục tín ngưỡng đối với thập nhi thánh tượng.

 Hàng năm Hội rối chùa Bi thường tổ chức diễn vào 3 dịp trong năm, đó là: đêm 30 tháng Chạp, Hội tổ chức hát múa chầu thánh tại chùa, đồng thời đón giao thừa sang một năm mới. Sau đó đến tối ngày 20, 21, 22, 23, tháng Giêng Hội tổ chức biểu diễn trước cửa chùa Bi nhân dịp lễ Đức thánh Từ Đạo Hạnh. Ngoài ra còn một lần sinh hoạt nữa vào 20/9 âm lịch, Hội tổ chức lễ “cơm mới” tại chùa để lễ thánh và bàn bạc công việc của hội. Toàn bộ kinh phí hoạt động do các hội viên cùng đóng góp.

Trang phục của các hội viên là áo the, khăn xếp đen, quần trắng. Đạo cụ phục vụ cho buổi diễn rất đơn giản gồm trống bản, trống cơm, thanh la bằng đồng thau và 3 mõ gốc tre già. Đầu rối được làm bằng gỗ, thếp sơn và gắn tay cầm để biểu diễn. Mỗi đầu rối to, nặng khoảng 3 đến 4 kg. Vì tính chất linh thiêng nên người dân trân trọng gọi là Thánh tượng. Thánh tượng hiện được bày trong khám thờ ở hậu cung chùa Bi. Bộ Thánh tượng (6 đầu rối to) có niên đại cách ngày nay trên 200 năm và hiện được đánh giá là đẹp nhất trong các bộ đầu rối ở miền Bắc Việt Nam. 12 đầu rối gồm có 6 đầu to chia làm 3 cặp: Đôi Lộng chúa mặt đỏ, quắc thước, thể hiện vẻ chính nhân quân tử 01 văn 01 võ; Đôi Lộng tỳ mặt trắng biểu hiện của sự phồn thực no đủ, sung túc; Đôi cóc vàng tượng trưng cho nền nông nghiệp lúa nước. Sáu đầu rối nhỏ gồm: 01 thể hiện chàng khôi ngô tuấn tú; 01 ông Chớp mặt đỏ tượng trưng cho mưa nắng thuận hòa, 02 nàng tiên; 01 hoàng hậu thể hiện cho sự cao quý của người phụ nữ đức hạnh; cuối cùng là 01 ông Mách mặt đỏ dữ tợn. Phía dưới cằm đầu rối có chỗ để buộc mảnh vải che tay người điều khiển mỗi khi vào múa chầu, mảnh vải ấy gọi là Y hay gọi là the.

Ca từ phụ trợ cho múa rối được làm theo thể song thất lục bát và lục bát. Ngoài ra còn có thể thơ tự do, biến thể của thơ lục bát có vần lưng và thể thơ Đường luật. Những từ đệm như: Ôi là, lê lễn, hồ dạ... trong thơ tượng trưng cho việc chèo lái con thuyền trên sông nước. Lường chỉ người con gái, Hòa chỉ người con trai, đọt nguộc chỉ hàng nước mắt v.v... Những ca từ này gồm có 36 làn điệu, không được truyền dạy mà các thành viên trong hội phải lắng nghe và tự học thuộc. Nghệ thuật ổi lỗi không chỉ hay ở hình thức biểu diễn, ca từ âm nhạc mà còn có giá trị nhân văn sâu sắc hàm chứa trong nội dung của những ca từ đó. Đến với nghệ thuật ổi lỗi chùa Đại Bi, chúng ta sẽ được thưởng thức những lời ca ngọt ngào đằm thắm và rất đặc trưng bởi những ca từ hoàn toàn bằng lời Việt cổ (tiếng Nôm). Nội dung nhằm ca ngợi cảnh sắc thiên nhiên, non sông tươi đẹp, đất nước thái bình thịnh trị, cầu cho mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt.

“Phong điểu vũ thuận thái hòa

Đêm mưa ngày nắng dân ta canh điền”...

“Được mùa đấu mễ tam tiền

Binh cường quốc phú khỏe lên tựa dài”...

Trong đó đặc biệt cây lúa được coi trọng và đưa lên hàng đầu. Bởi cây lúa là sản phẩm của nền nông nghiệp lúa nước. Nó có thể đem lại cho người dân một cuộc sống no đủ và hạnh phúc:

“Mười hai hoa ấy lấy hoa nào ra làm chúa

Lấy một hoa lúa ra làm chúa mọi hoa...”

Nội dung của những ca từ đó còn thể hiện sự khao khát cháy bỏng của tình yêu đôi lứa, mong muốn được gặp gỡ để thỏa mãn nỗi nhớ nhung xa cách. Chính ngày hội rối này cũng là ngày trai gái kín đáo tìm hiểu nhau và cùng hướng tới thánh, cầu xin cho đỏ thắm đường tơ, nghĩa tình bền chặt.

“Hai mươi phát tấu chùa Bi

Trai đi tìm vợ, gái đi tìm chồng”

Song giá trị độc đáo nhất của nghệ thuật “Ổi lỗi” chùa Đại Bi là sự răn dạy đạo lý làm người đối với mọi tầng lớp trong  xã hội. Vận dụng thuyết “Tam cương ngũ thường”, “Công dung ngôn hạnh” của Nho giáo Trung Quốc làm chuẩn mực đạo đức để giáo dục con người, góp phần hình thành nên nhân cách thuần hậu của con người Việt Nam.

Ra đời từ trong những truyền thuyết dân gian, nghệ thuật hát rối đầu gỗ chùa Đại Bi tồn tại và lưu truyền như một sản phẩm văn hóa rất đặc trưng bởi nó gắn liền với tín ngưỡng, tâm linh của cư dân vùng này. Trải qua bao thời gian, vậy mà nghệ thuật “Ổi lỗi” chùa Đại Bi dường như vẫn còn giữ đựợc nguyên vẹn giá trị cổ truyền của cha ông để lại và tạo ra một dòng chảy xuyên suốt từ thế kỷ này sang thế kỷ khác. Mặc dù có những lúc gặp khó khăn trở ngại cùng biến cố lịch sử nhưng nghệ thuật “Ổi lỗi” chùa Đại Bi vẫn luôn âm ỉ cháy với một sức sống bền bỉ, dẻo dai trong tâm thức của cư dân phía Nam vùng đồng bằng châu thổ và trở thành một biểu tượng cao đẹp cho lối sống và đạo đức, nhân cách của con người Việt Nam.                                     

Trong dòng chảy không ngừng của đời sống đương đại, khi nhiều loại hình văn hóa dân gian đang dần mai một, nghệ thuật “Ổi lỗi” chùa Bi vẫn hiện diện như một chứng tích sống động của chiều sâu lịch sử, tín ngưỡng và tâm hồn người Việt. Không chỉ là một hình thức diễn xướng độc đáo, đây còn là không gian bảo lưu ký ức cộng đồng, nơi kết tinh niềm tin tâm linh, đạo lý làm người và khát vọng về cuộc sống no đủ, yên vui. Việc bảo tồn và phát huy giá trị nghệ thuật “Ổi lỗi” vì thế không chỉ dừng lại ở gìn giữ những Thánh tượng hay làn điệu cổ mà còn là gìn giữ một mạch nguồn văn hóa, một bản sắc riêng có của cư dân vùng đất Ninh Bình. Khi được quan tâm đúng mức, kết hợp hài hòa giữa bảo tồn nguyên gốc và lan tỏa giá trị trong đời sống hôm nay, nghệ thuật hát rối đầu gỗ chùa Bi sẽ tiếp tục ngân vang như tiếng nói của truyền thống, góp phần làm giàu thêm kho tàng di sản văn hóa dân tộc và bồi đắp nền tảng tinh thần cho các thế hệ mai sau.

 

Các nghệ nhân Hội rối chùa Đại Bi, xã Nam Trực biểu diễn trích đoạn "Thái Bình vũ khúc" và chụp ảnh lưu niệm tại Liên hoan văn hoá dân gian các di tích tiêu biểu tỉnh Ninh Bình lần thứ Nhất, năm 2025, tổ chức tại Đền Lảnh Giang, phường Duy Tân, tỉnh Ninh Bình.

 

Tác giả: Nguyễn Thị Mai Huế

Trưởng phòng Kiểm kê - Bảo quản