CHÀO MỪNG ĐẾN VỚI CỔNG THÔNG TIN BẢO TÀNG NINH BÌNH!

Bát Cảnh Sơn – Danh thắng tiêu biểu của tỉnh Ninh Bình

  03:47 PM 05/12/2025        299
TÓM TẮT: Danh thắng Bát Cảnh Sơn nằm về phía Tây Bắc của tỉnh Ninh Bình, bên tả ngạn sông Đáy, dựa lưng vào vòng cung Nam Công (Kim Bảng – Ninh Bình và Tuyết Sơn, Hương Tích – Hà Nội), tạo thành hình sông, thế núi kỳ thú và hùng vĩ. Theo Lịch triều hiến chương loại chí (phần Dư địa chí trang 49 tập 1 của Phan Huy Chú) thì Minh Đô Vương Trịnh Doanh là chúa thứ 7 thời vua Lê chúa Trịnh, hiệu Nghị Tổ Ân Vương đã qua đây, đứng trước phong cảnh hữu tình, núi non kỳ thú đã ví Bát Cảnh Sơn như cảnh Tiêu Tương bên Trung Quốc và cho lập hành cung để đi về thưởng ngoạn.

 

 

Toàn cảnh núi Tượng Lĩnh (núi Chùa Ông) - Điểm đầu của dãy Bát Cảnh Sơn

 

Bát Cảnh Sơn không chỉ nổi tiếng với phong cảnh đẹp mà còn là vùng đất địa linh được các bậc tiền nhân lựa chọn xây cất lên các công trình văn hoá, tôn giáo, tín ngưỡng cổ gắn liền với lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc. Trong khoảng không gian trải dài trên 3km đã hình thành lên 8 ngôi chùa lớn thờ thần phật và các vị bồ tát, được bố trí theo thuyết ngũ hành tương sinh, gắn chặt với cuộc đời và sự nghiệp của các vị cao tăng tổi tiếng như: Thiền sư Nguyễn Minh Không (Vị quốc sư thời Lý), Đức Thánh Tiên Ông (thời Trần), Viên Quang Chân Nhân – Vị tổ khai sáng Chùa Hương Tích (thời Lê Trung hưng), cùng với nhiều đời thiền sư nối tiếp nhau hộ trì phật pháp, giáo hoá chúng sinh, hướng con người đến chân, thiện, mỹ.

Có thể do tám ngôi chùa được xây cất lên ở vùng đất này mà được người xưa đặt tên là “Bát Cảnh Sơn”? Tám ngôi chùa toạ lạc theo các hướng của các cung Ngũ hành như sau:

Chùa Dầu, chùa Bà: thuộc Hợi Sơn, hướng Tỵ cung Mộc, cầu vinh hoa phú quý, con cháu thông minh, đẹp người đẹp nết.

Chùa Vân Mộng, chùa Bèo: thuộc Dậu Sơn, hướng Mão và Tân Sơn hướng Ất, cung Hoả, cầu âm dương hoà hợp, con cháu đỗ đạt, trường thọ.

Chùa Tam Giáo, chùa Kiêu thuộc Canh Sơn, hướng Giáp, cung Thổ, cầu tiền tài, điền sản, sung túc, hưng vượng.

Chùa Tiên Ông (đền Ông, chùa Ông) thuộc Ngọ Sơn, hướng Tý, cung Kim, cầu nhân khang vật thịnh, tấn tài, tấn lộc và trường thọ.

Chùa Cả (đã bị chìm dưới vực chùa Ông) thuộc Thân Sơn, hướng Dần, cung Thuỷ cầu văn sỹ, hiền tài, kiệt xuất.

Danh thắng Bát Cảnh Sơn xưa có diện tích gần 200 ha, nằm trải dài trên dải núi đá vôi khoảng 3km­. Nằm trong quần thể di và danh thắng, ngôi chùa tọa lạc cao nhất là chùa Kiêu ở độ cao 160m so với mực nước biển, tọa độ địa lý được xác định tại 2 địa điểm: Đền Tiên Ông (ở vị trí ngoài cùng) và chùa Vân Mộng (nằm cuối quần thể). Trải qua thời gian và chiến tranh tàn phá, các danh lam cổ tự tại Bát Cảnh Sơn đã không còn nguyên vẹn như xưa. Trong số 8 ngôi chùa, miếu thờ hiện còn lại 3 ngôi chùa còn tương đối nguyên vẹn, đó là: đền/chùa Tiên Ông, chùa Tam Giáo. Các di tích còn lại đã bị huỷ hoại, một số vẫn còn dấu tích nền móng kiến trúc, di vật, bia ký, đặt ban thờ trong các mái đá tự nhiên.

Đền Đức Thánh Tiên Ông

 

Chùa Tiên Ông (còn có tên gọi khác Chùa  Ông  hay đền Ông, Đền Đức Thánh Tiên Ông) tọa lạc trên lưng chừng núi Tượng Lĩnh. Tượng Lĩnh (còn có tên gọi khác núi Voi, núi Chùa Ông) ở độ cao 90m so với mực nước biển là một  quả núi độc lập nằm soi mình bên bờ sông Đáy. Nhìn từ xa, núi Tượng Lĩnh như khoác trên mình tấm áo xanh tươi, mát dịu của một thảm thực vật phong phú với những cây si, cây đề cổ thụ tỏa bóng xuống lớp lớp cây con địa lan, dương xỉ,...hợp với dòng sông uốn khúc quanh co tạo cảm giác yên bình cho người thưởng ngoạn. Tương truyền chùa được khởi dựng từ đời vua Lý Nhân Tông trên chính khu đất mà Đức Thánh Tiên Ông hóa. Từ dưới chân núi đi lên đền chính qua 108 bậc đá tự nhiên, xung quanh là cây cối xanh tươi, mát dịu. Đền chính được bố cục theo hình chữ Tam với tiền đường 5 gian, kiến trúc kiểu chồng diêm 2 tầng, tám mái cong, 4 góc đầu đao hình rồng mềm mại. Tiếp đến là trung đường 3 gian được xây kiểu hồi văn cánh bảng tam đấu và gian hậu cung xây cuốn vòm. Ở đền còn lưu giữ được thần phả, sắc phong của các triều đại phong kiến và các đồ thờ cổ thư quý hiếm như: hoành phi, đại tự, câu đối, bát hương bằng đá, bằng đồng. Đặc biệt ở đền còn có 2 pho tượng cổ: một bằng gỗ, một bằng đồng được thờ trong hậu cung. Đền nằm ở lưng chừng núi, hài hòa cảnh trí núi sông. Đứng từ đây, có thể bao quát toàn cảnh làng quê Tượng Lĩnh với những cánh đồng lúa rộng thẳng cách cò bay, ao hồ, núi sông hòa quyện như một bức tranh thủy mặc. Vì thế mà Nghị tổ Trịnh Doanh đã từng ví nơi đây như Bát Cảnh Tiêu Tương nổi tiếng đời Tống (Trung Quốc). Nhiều vị vua, chúa như: Lê Thái Tổ, Lê Dụ Tông, Trịnh Doanh, Trịnh Tùng, Trịnh Sâm, Mạc Phúc Hải… đã nhiều lần xa giá tới thăm.

Từ đền Tiên Ông, men theo sườn núi khoảng 1km là đến chùa Tam Giáo. Chùa có tên chữ Hán là “Tam Giáo tự”, được xây dựng vào nửa cuối thế kỷ XIII. Tên của chùa như đã nói lên tư tưởng Tam giáo đồng nguyên (dung hòa cả ba đạo Phật, Lão, Nho) thịnh hành, chi phối mạnh mẽ đến các mặt đời sống xã hội, trong đó có các công trình văn hóa tín ngưỡng ở đây. Vì thế, cái tên chùa Tam Giáo xuất hiện ở nhiều địa phương như Hưng Yên, Lạng Sơn, Hà Nội...và đặc biệt là ở Ninh Bình. Chùa Tam Giáo xưa kia có hàng trăm gian với hàng trăm pho tượng Phật uy nghi tráng lệ. Truyền thuyết kể rằng, khi xây dựng chùa, có rất đông thợ làm. Tiên Ông có nồi cơm và lọ muối vừng ăn hết lại đầy.Chùa được xây dựng dưới chân núi, ở đây có một suối nước chảy từ  trong núi ra, tương truyền, dòng suối này mỗi ngày chảy ra hai bát gạo và hai đồng tiền đủ cho nhà sư sinh sống. Sau có kẻ tham biết chuyện đã đục cho miệng suối rộng ra, từ đấy gạo tiền không chảy ra nữa. Gần đây, người dân làng Quang Thừa phát hiện cạnh chùa Tam Giáo có những tấm bia cổ ghi công đức của muôn dân trăm họ xây dựng chùa. Từ đó, có thể suy luận, sự tích niêu cơm thần chính là để tôn vinh công đức đóng góp của nhân dân, cho thấy nguồn lực trong dân là vô cùng vô tận như niêu cơm thần cứ vơi lại đầy.Dưới sự trụ trì của Đức Thánh Tiên Ông, ngôi chùa Hoằng dương Phật pháp, tiếng tăm lừng lẫy khắp trấn Sơn Nam, thu hút đông đảo tăng ni, phật tử về hành đạo. Dân trong, ngoài trấn đều nô nức về chùa lễ bái, cầu phúc, cầu tài, cầu cho nước thịnh, dân an. Đức Thánh Tiên Ông tinh thông giáo lý, truyền giảng cho dân, giữ nếp nghiêm cẩn, góp phần tôn vinh đạo Phật

Quanh cảnh đoàn rước kiệu trong lễ hội truyền thống đền Đức Thánh Tiên Ông

 

Từ chùa Tam Giáo đi ngược lên đỉnh núi chừng 200m là đến chùa Kiêu. Ngôi cổ tự xưa nằm trên đỉnh núi cao, từ đây có thể bao quát cả  một vùng rộng lớn phía đông nam Tượng Lĩnh. Tương truyền, chùa được xây dựng từ thời Trần. Dựa vào việc nhận diện các di vật tại di tích thì chùa đã trải qua một đợt trùng tu lớn dưới thời vua Lê Trung hưng (khoảng thế kỉ XVII- XVIII). Chùa Kiêu là một tổ hợp gồm hang động và một nhân tạo trước cửa hang, xung quanh là những cây cổ thụ hằng trăm tuổi, toả tán xum xê. Trên vách của động chính có tạc một bia đá kích thước 0,55 x 0,39 khắc dòng lạc khoản: “ Quang Thừa xã tỳ kheo ni hiệu Huệ Nhẫn trụ trì bản tự bi ký. Hoàng thượng vạn vạn niên trị”. Dọc đường lên chùa có 2 tấm bia khắc vào vách núi gọi là bia “ma nhai”. Trán bia trang trí mặt nhật bao quanh bởi các đao mác, dưới tạo khung ô khắc 7 chữ Hán “ Tạo Phật Tích Sơn Tự Thạch Bi”, nội dung bia khắc tên những người công đức tu bổ, phục dựng chùa. Bia phía sau nằm ngay sát lối lên, trán bia chỉ khắc một vòng trơn. Dòng bên trái bía khắc chữ lớn “Phật Nhật Trường Quang”. Nội dung bia nói đến việc vào năm Nhâm Thân nhân dân và khách thập phương hưng công làm chùa Phật Tích. Cả hai bia đều không ghi niên đại tuyệt đối. Tuy nhiên, căn cứ vào các chi tiết mĩ thuật có thể nhận định, cả hai bia có cùng phong cách trang trí, có niên đại khoảng thế kỉ XVII – XVIII, thời Lê Trung hưng. Trên cửa hang tạo bia ma nhai kích thước 50,5cm x 30,3cm, ghi chữ Hán: "Nhật nguyệt trường quang". Tục truyền, ngày xưa cứ đêm trăng sáng, Tiên Ông lại cùng ngồi đánh cờ với các quan nhà trời tại đây. Chùa Kiêu được xây dựng cũng thuộc cung Thổ như chùa Tam Giáo để thờ Cao Sơn Thượng Đẳng thần.

Chùa Vân Mộng nằm ở vị trísâu nhất trong hệ thống đền/chùa thuộc quần thể di tích danh thắng Bát Cảnh Sơn. Ngôi chùa từng đi thi ca, sử sách, lưu danh thiên cổ với những ghi chép của Lê Quý Đôn trong Vân Đài Loại Ngữ. Hay trong Thiên Nam Ngữ Lục từng ca ngợi về chùa Vân Mộng:

“...Chim ca ríu rít, suối đàn đỉnh đang

Ngửa trông lên thấy một hang

Lại có chữ rằng Vân Mộng S ơn danh

Thầy hiệu Qủy Cốc tiên sinh

Ở đấy tu hành biết mấy mươi thu...”

Di vật kiến trúc tại chùa Vân Mộng

 

Từ chùa Kiêu, vượt đường đèo, qua 3 thung lũng và 5 ngọn núi; hoặc đi bộ khoảng 3km, men theo chân núi Tượng Lĩnh để đến với chùa Vân Mộng. Ngôi chùa tọa lạc ở độ cao trên 60m so với mực nước biển. Chùa gồm hai phần: thiên tạo trong hang động và nhân tạo ở ngay trước cửa hang. Ngôi chùa, từ xa trông lại tựa như áng mây hồng giữa bạt ngàn rừng núi nên được gọi là Vân Mộng Sơn. Về lịch sử, kiến trúc, Vân Mộng là ngôi chùa lớn, lịch sử tồn tại lâu dài, dấu tích vật chất qua khai quật xác định sự tồn tại của chùa Vân Mộng ở thời Trần (thế kỷ XIV), trải qua các triều đại kế tiếp được trùng tu, tôn tạo, mở rộng không gian mà kiến trúc trở thành trung tâm đào tạo tăng đồ và truyền thụ giáo lý Phật giáo. Qua nghiên cứu, lần trùng tu, mở rộng lớn nhất được tiến hành thời Lê Trung Hưng (thế kỷ XVII) với sự hưng công của các tín chủ là những người có địa vị trong triều đình. Nhân vật thờ, chùa Vân Mộng nói riêng, danh thắng Bát Cảnh Sơn nói chung gắn liền với nhữngnhân vật lớn của thời đại: Thiền sư Minh Không (thời Lý), Đức Thánh Tiên Ông (thời Trần) và ở giai đoạn phát triển, mở mang về sau trở thành trung tâm tôn giáo tín ngưỡng, đào tạo tăng đồ, truyền thụ giáo lý với sự trụ trì của các tăng sư danh tiếng, gắn với Tổ Viên Quang Chân Nhân. (Tổ Viên Quang là dòng dõi công khanh, họ Phạm, húy Vỹ, quê Chương Đức, An Thái, xuất gia đi tu từ năm chín tuổi. Tổ tinh thông kinh luật, giỏi thiên văn, am tường địa lý, từng vân du nhiều nơi thánh địa, được triều đình nhà Lê Trung Hưng phong Thượng Lâm Viện - Tăng Lục Ty Hòa Thượng, Viên Giác Tôn Giả). Bia “Vân Mộng Nguyên Khánh bi/雲夢元慶, niên đại Vĩnh Thọ Nhâm Dần (1662) có đoạn ghi: “Viên Quang Chân Nhân, rộng mở thật nhiều, thấm khắp nền phúc, dụ bảo Thiền lâm, chăm lo công đức. Chan chứa thay, đời đời cùng chứng Bồ Đề, kiếp kiếp viên thành chính giác. Các lệ, phủ, huyện, tổng cùng nhau sắm lễ, giãi bày hoa nọ,...”. Dưới sự trụ trì của ngài, chùa Vân Mộng nổi tiếng khắp vùng, được nhiều tín đồ phật tử gần xa biết tiếng. Theo tư liệu khắc trên bia đá, ngoài những người ở bản huyện, còn có nhiều thiện nam, tín nữ gần xa phát tâm cúng tiến, đặc biệt còn có sự hưng công của các nhân vật đầu triều như: Thiếu Bảo Đào Quang Nhiêu (danh tướng 3 đời chúa Trịnh, thời Lê Trung Hưng); vợ chồng Phái Quận Công (ở phủ Thiệu Thiên, huyện Đông Sơn, Thanh Hóa ngày nay). Không chỉ có công hoằng dương phật pháp, biến Vân Mộng thành “Sơn danh” tiếng tăm, Tổ Viên Quang còn có công khai sáng quần thể  Hương Sơn, Mỹ  Đức ngày nay.

Mái đá chùa Kiêu

 

Chùa Bà, chùa Dầu, chùa Bèo, chùa Cả là ngôi cổ tự nổi tiếng nhưng hiện nay chỉ còn lại dấu tích. Chùa Bà được xây dựng vào khoảng cuối thế kỉ XI (1090 – 1100). Từ hang Vân Mộng (phía cuối thung Gianh bây giờ), Đức Vân Mộng Thiền Sư vừa tu luyện vừa cắm đất, cùng nhân dân làng Quang Thừa xây dựng chùa Bà để thờ Đức Phật Bà Quan Thế Âm Bồ Tát. Năm 2021, Bảo tàng tỉnh đã khảo sát và phát hiện được dấu tích nền móng chùa Bà còn khá rõ, ở vị trí tiếp giáp chân núi Chùa Ông.  Chùa Dầu nằm ở phía Bắc đầm Phúc Trung, chỉ còn dấu tích. Chùa Dầu cũng được xây dựng theo hướng như chùa Bà, thuộc “cung Mộc”. Theo các nhà nghiên cứu địa phương thì chùa Dầu là đất trình của trăm họ, là nơi cửa thờ Đức Chúa Ông đại diện cho Thành Hoàng Bản Thổ, cũng là đất cắm giữ mạch thủy đông nam triều bái về vùng Bát Cảnh. Chùa Bèo được xây dựng ở vị trí phía Tây làng, thuộc cung Hỏa, Tân Sơn hướng Ất. Chùa Bông thờ các thần linh bảo vệ sự sinh tồn của các “Điểm quý vật” từ khu tứ linh (làng Thừa cổ, nay là vùng cánh đồng Kẻ Thừa), đến miếu và toàn bộ núi rừng vùng Bát Cảnh. Chùa Cả ở vị trí phía Đông Bắc đầu núi Chùa Ông. Năm 1889 vỡ đê, nước xoáy thành vực nên nhấn chìm chùa Cả. Ngoài 8 chùa kể trên, nơi đây còn một miếu nhỏ (có thể được xây dựng cùng thời với chùa Cả) để thờ thần linh phương Bắc. Vị trí miếu nằm ở khu đền Mẫu dưới chân đền, chùa Ông.

Danh thắng Bát Cảnh Sơn có lịch sử lâu đời, cảnh quan thiên nhiên kỳ thú, di tích cổ kính,  bảo lưu nhiều sinh hoạt văn hoá dân gian đặc sắc, độc đáo, nếu được khai thác đúng hướng chắc chắn sẽ trở thành một điểm du lịch sinh thái – văn hoá hấp dẫn trên vùng đất Tượng Lĩnh, Ninh Bình./.

Tác giả: Đỗ Văn Hiến

Giám đốc Bảo tàng tỉnh Ninh Bình