Giá trị sưu tập điêu khắc đá tháp Chương Sơn thời Lý, thế kỷ XII, tại Bảo tàng tỉnh Ninh Bình
Sưu tập gồm 143 hiện vật đá điêu khắc, thu thập trong quá trình khai quật phế tích Bảo tháp Vạn Phong Thành Thiện hay còn gọi là tháp Chương Sơn, trên đỉnh núi Ngô Xá, xã Yên Lợi, huyện Ý Yên năm 1966 - 1967 (núi Ngô Xá nay thuộc xã Tân Minh, tỉnh Ninh Bình). Hiện vật được chế tác hoàn toàn bằng kỹ thuật chạm khắc thủ công từ loại đá sa thạch (đá cát), màu xám với các đồ án trang trí như: người múa, rồng, chim thần, vòng hào quang hình lá đề, hoa sen, hoa cúc, sóng nước, mây trời,...Hiện vật gồm nhiều kích thước khác nhau, có những hiện vật to nặng, còn nguyên vẹn hoặc tương đối nguyên vẹn; cũng có những hiện vật chỉ còn là mảnh vỡ nhưng trên mặt chạm khắc họa tiết hoa văn độc đáo; có những hiện vật giá trị độc bản và quý hiếm mà từ trước đến nay chưa phát hiện được trong bất kỳ một di tích nào thuộc thời Lý (Thành bậc lan can - hiện vật đã được công nhận là bảo vật Quốc gia năm 2015). 143 hiện vật đó là những cấu kiện kiến trúc gồm: chân tảng, các loại đố dọc, đố ngang, thành bậc lên xuống, bệ đá, đá ghép tường, trụ cửa, mi cửa, đấu, con sơn,... và những bộ phận trang trí kiến trúc như: chim thần, rồng, lá đề, đầu người mình chim, tượng người, tượng khỉ,…) của tháp Chương Sơn, thời Lý, đầu thế kỷ XII.
Sưu tập hiện vật điêu khắc đá là minh chứng xác thực, cung cấp nhiều thông tin có giá trị về nghệ thuật tạo hình, tư duy thẩm mỹ, tư tưởng đương thời giúp ta tìm hiểu rõ hơn về một công trình kiến trúc phật giáo cách ngày nay gần 1000 năm, đó là tháp Chương Sơn. Sách Việt sử lược ghi: “Mùa xuân tháng giêng, năm Mậu tí, hiệu Long phù nguyên hoá năm thứ tám (1108), xây tháp ở Chương Sơn” (tr.123). Sách Đại việt sử ký toàn thư chép: “Tháng ba, ngày Bính thìn, Đinh dậu năm thứ tám (1117), vua ngự đến núi Chương Sơn để khánh thành bảo tháp Vạn Phong thành thiện” (tr. 247). Theo đó, tháp Chương Sơn được xây dựng trong 9 năm từ (1108 - 1117), dưới thời vua Lý Nhân Tông, triều Lý. Cũng theo các sách này, không gian tồn tại tháp Chương Sơn vốn là vùng đất thiêng, có 3 lần rồng vàng hiện vào các năm: 1107, 1114 và năm 1117. Đến đầu thế kỷ XV, giặc Minh sang xâm lược nước ta đã phá huỷ tháp Chương Sơn. Cuối năm 1966 đầu năm 1967, Ty Văn hóa Nam Hà phối hợp với Viện Khảo cổ học Việt Nam tiến hành nghiên cứu, khai quật phế tích tháp Chương Sơn với diện tích hơn 900 m2. Ngoài việc làm rõ kết cấu chân móng tháp 3 tầng hình vuông giật cấp, cao 4,05m, cạnh dưới cùng dài 19m bó bằng đá muối, các nền sân lát gạch, hệ thống chân tảng, đường cống thoát nước, cuộc khai quật còn thu thập được 408 hiện vật chất liệu đá, đất nung, sành sứ, kim loại... trong đó phần lớn là hiện vật đá với 200 di vật. Tiêu biểu có loại gạch in nổi chữ Hán “Lý gia đệ tứ đế Long phù nguyên hoá ngũ niên tạo” (sản xuất năm thứ năm, hiệu Long phù nguyên hoá, đời vua thứ 4 nhà Lý (1105). Từ kết quả khai quật, nghiên cứu đã góp thêm phần khẳng định niên đại, quy mô và kiến trúc của tháp Chương Sơn. Tháp được khởi dựng năm 1108, hoàn thành năm 1117; xây dựng chủ yếu bằng vật liệu gạch và đá; là công trình kiến trúc phật giáo, một đại danh lam có vị trí, ý nghĩa quan trọng của quốc gia Đại Việt thời Lý trên vùng đất Ninh Bình.
Sưu tập hiện vật đá tháp Chương Sơn là minh chứng tiêu biểu cho đỉnh cao nghệ thuật điêu khắc thời Lý thế kỷ XII - giai đoạn được đánh giá là một trong những thời kỳ huy hoàng nhất của mỹ thuật Việt Nam. Mỗi hiện vật được chạm khắc công phu, tỉ mỉ, thể hiện sinh động hình ảnh con người, vật linh, cỏ cây hoa lá,…Tất cả đều toát lên một vẻ đẹp nhẹ nhàng, thanh thoát mà vẫn diễn đạt được cái khí thế trẻ khoẻ vươn lên của nước Đại Việt. Trong số đó, tiêu biểu là “Thành bậc lan can” - hiện vật đã được Thủ tướng Chính phủ công nhận là bảo vật quốc gia. Thành bậc là một phiến đá dài, khối hình thang, trang trí trên bốn mặt gồm 2 mặt ngang, mặt trên và mặt đầu chéo. Mặt trên rộng 5cm, được chạm thành nhiều múi nhỏ song song hình răng lược. Mặt đầu chéo chạm nổi 4 vòng cúc dây nối liên tiếp nhau thành một dải. Mặt ngang:tầng trên chạm nổi mỗi mặt hình 7 vũ nữ trong tư thế múa dâng hoa. Các vũ nữ đều có cùng một phong cách thể hiện là bụng ưỡn, mông to nhô lên, thân hình chia làm 3 khúc chao mạnh về phía trước, chân trái co, chân phải duỗi thẳng ra phía sau. Đầu các vũ nữ ngả hẳn về phía sau, khuôn mặt trái xoan trong tư thế nhìn chính diện, búi tóc bồng nổi cao, đội mũ nhiều tầng trang trí dải hoa 5 cánh. Xiêm áo mềm mại ôm sát người, tay để trần, quần túm ống, chân đi dày mũi hài. Hai tay dang rộng ra hai bên, khuỷu tay co gập đưa song song ngang đầu. Tay trái cầm một nụ sen lớn, tay phải cầm một dải lụa. Cổ tay, cổ chân đeo trang sức và thắt các dải lụa mềm mại; tầng dưới, một mặt chạm kín băng hoa cúc dây gồm 20 bông liên tiếp nhau uốn lượn hình sin, bên cạnh hoa văn phụ trợ hình dấu hỏi và hoa văn tay mướp, mặt còn lại chia thành 13 hình chữ V so le ngược chiều nhau.
Thông qua các đồ án trang trí điêu khắc, có thể thấy được sự tài hoa, khéo léo của bàn tay và khối óc sáng tạo của các nghệ nhân xưa. Từ một vật thể rắn, nghệ nhân đã tỉ mỉ trong việc sử dụng các kỹ thuật chạm nổi kết hợp với khắc chìm, tận dụng những đường cong, những nét đục sắc gọn và thổi vào đó một sức sống mãnh liệt đầy nội lực để rồi từ những phiến đá tưởng như khô cứng, vô tri đã trở thành những kiệt tác nghệ thuật. Các hình tượng rồng bay trong mây, những vũ nữ uyển chuyển trong điệu múa dâng hoa, chim thần Garuđa hay những băng hoa cúc dây uốn lượn liên hoàn không đơn thuần là trang trí làm đẹp cho kiến trúc mà còn phản ánh thế giới quan, nhân sinh quan và đời sống tinh thần phong phú, khát vọng vươn lên, ý chí tự cường và sức sống mãnh liệt của Quốc gia Đại Việt thời Lý. Các hình tượng nghệ thuật điêu khắc còn phản ánh sự kết tinh và giao thoa của nhiều dòng chảy tư tưởng, tín ngưỡng và nghệ thuật trong xã hội đương đại. Đây là những chứng tích sinh động cho thấy sự tiếp biến văn hóa giữa Đại Việt với các nền văn hóa lớn trong khu vực như Chăm Pa, Ấn Độ và Trung Hoa; đồng thời khẳng định bản lĩnh sáng tạo riêng của nghệ thuật dân tộc trong quá trình giao lưu và hội nhập.
Sưu tập hiện vật điêu khắc đá tháp Chương Sơn không chỉ là tập hợp những hiện vật khảo cổ quý giá mà còn là “ký ức bằng đá” của một thời kỳ rực rỡ trong lịch sử dân tộc. Mỗi phiến đá, mỗi đường chạm khắc dù nguyên vẹn hay chỉ còn là những mảnh vỡ, đều mang trong mình dấu ấn của một công trình kiến trúc Phật giáo tầm vóc quốc gia, gắn với triều đại Lý - thời kỳ phát triển hưng thịnh của văn hóa Đại Việt. Thông qua sưu tập hiện vật, hình ảnh một đại danh lam từng được nhà vua trực tiếp chỉ đạo xây dựng, khánh thành và bảo trợ đã được tái hiện sinh động sau gần một thiên niên kỷ bị vùi lấp dưới lớp bụi thời gian.
Từ những phiến đá nằm sâu trong lòng đất suốt nhiều thế kỷ, lịch sử đã được đánh thức, văn hóa được hồi sinh và nghệ thuật được tỏa sáng. Sưu tập hiện vật điêu khắc đá tháp Chương Sơn thời Lý không chỉ là di sản của riêng tỉnh Ninh Bình mà còn là một phần ký ức quý giá của dân tộc Việt Nam. Mỗi hiện vật là một trang sử bằng đá, giúp thế hệ hôm nay hiểu hơn về tài năng, trí tuệ và tâm hồn của cha ông; đồng thời khơi dậy trách nhiệm gìn giữ, bảo tồn và lan tỏa những giá trị văn hóa ngàn năm cho các thế hệ hôm nay và mai sau.
MỘT SỐ HÌNH ẢNH HIỆN VẬT ĐIÊU KHẮC ĐÁ THÁP CHƯƠNG SƠN THỜI LÝ, THẾ KỶ XII, TRƯNG BÀY TẠI BẢO TÀNG TỈNH NINH BÌNH – CƠ SỞ 2

Thành bậc lan can tháp Chương Sơn thời Lý, thế kỷ XII – Bảo vật Quốc gia

Nhóm hiện vật: Mặt đá tròn, đố dọc, đố ngang - cấu kiện kiến trúc tháp Chương Sơn thời Lý, thế kỷ XII
Tác giả: Nguyễn Thị Mai Huế